Điện ảnh Pháp « toàn cầu » Trong số các phim được giới thiệu tại Viện trao đổi văn hóa với Pháp trong khuôn khổ toàn cảnh điện ảnh Pháp, có 3 phim tiêu biểu cho quá trình hợp tác quốc tế trong sản xuất phim ở Pháp hiện nay. Phim Ngày chiến thắng (Days of Glory) của Rachid Bouchareb nói về hành trình của bốn người lính Bắc Phi gia nhập quân đội Pháp để tham gia giải phóng nước Pháp khỏi cuộc chiếm đóng của Đức Quốc Xã vào năm 1943. Bốn nhân vật chính trong phim đều do bốn diễn viên rất được giới trẻ Pháp mến mộ thủ vai: Jamel Debbouze nổi tiếng với các chương trình trên truyền hình và chương trình one-man shows, Sami Bouajilah và Roshdy Zem từng tham gia đóng các phim tác giả nổi tiếng và Samy Nacéri nổi tiếng với các tập phim Taxi. 4 diễn viên trong phim Người bản xứ đã đoạt giải diễn xuất tập thể hay nhất tại Liên Hoan Phim Cannes năm 2006 và phim này cũng tham gia tranh giải Oscars năm 2007 trong thể loại phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất. Phim Hai cô con gái của ông chủ vườn thuốc Trung Hoa của đạo diễn Đới Tư Kiệt (Daï Sijie). Chuyện phim diễn ra vào thập niên 80 ở Trung Quốc. Phim được chuyển thể từ tiểu thuyết nổi tiếng của ông lấy cảm hứng từmột câu chuyện ông đọc được trên báo Trung Quốc: Chuyện phim kể về hai người phụ nữ, một người là công nhân và một người là y tá. Cả hai đều bị kết án tử hình vì là người đồng tính và bị nghi ngờ đã giết chết cha của một trong hai người. Đoàn làm phim gồm nhiều người đến từ nhiều nước khác nhau và nói nhiều ngôn ngữ khác nhau ở trường quay, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hoa và tiếng Việt (tiếng mẹ đẻ của các kỹ thuật viên vì phim được quay ở Việt Nam). Lý Tiểu Nhiễm, nữ diễn viên nổi tiếng của Trung Quốc, đã có nhiều kỹ niệm khó phai trong quá trình quay phim và đặc biệt là trong mối quan hệ với đạo diễn Đới Tư Kiệt mà theo cô ông không phải là đạo diễn nước ngoài mà là « đạo diễn Trung quốc sống ở nước ngoài ». Một trong những lý do thúc đẩy đạo diễn Abderrahmane Sissako làm phim Bamako là để thể hiện cách nhìn của mình về Châu Phi, một châu lục với nhiều bất công và về những điều giả tạo giữa các nước phát triển với các nước kém/đang phát triển. «Khi ta sống ở một châu lục mà việc làm phim là hiếm và khó khăn, thì ta tự nhủ với mình rằng mình có thể nhân danh người khác để nói: đối mặt với tình hình nghiêm trọng ở Châu Phi». Đạo diễn Sissako đã quyết định sử dụng thẩm phán và nhân chứng thật trong phân đoạn tại tòa án. Các nhân chứng này được lựa chọn trong số những nạn nhân của việc điều chỉnh cơ cấu của Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế. Đạo diễn đã để cho các nhân chứng được tự do lên án hoặc bảo vệ hành động này để đối chiếu khía cạnh hoàn toàn tài liệu với khía cạnh phim truyện. Diễn viên Mỹ Danny Glover đã bày tỏ sự ủng hộ của mình đối với bộ phim này bằng việc trực tiếp tham gia sản xuất phim. Bamako tuyển chọn chiếu chính thức tại Liên hoan phim Cannes vào tháng 5 năm 2006, nhưng không tham gia tranh giải. Với cơ chế hỗ trợ của Trung tâm Điện ảnh Quốc gia và chính sách đa dạng văn hóa, hiện nay, Pháp là một đại gia đình của các nhà điện ảnh từ khắp nơi trên thế giới.
Điện ảnh trẻ của Pháp Delon, Belmondo, De Funes, Bourvil, Làn sóng mới… là những tên tuổi lớn trong lịch sử điện ảnh Pháp và thế giới trong thập niên 60 của thế kỷ 20. Đầu thế kỷ 21, thế hệ trẻ ở Pháp đã kế thừa một cách xứng đáng thế hệ đi trước và tạo nên « điện ảnh trẻ Pháp ». Trong số các diễn viên trẻ có thể kéo khán giả đến rạp bằng tên tuổi của mình, phải kể đến Guillaume Canet (Phim Đừng nói cho ai biết), Vincent Cassel (Nhân viên mật vụ), Romain Duris (Trái tim lỗi nhịp), Benoît Magimel (Phi đội quả cảm), Clovis Cornillac (Les Brigades du tigre), Audrey Tautou (Hors de prix), Cécile de France (L’Auberge espagnole), Marion Cotillard (La Môme), Isabelle Carré (Nhớ lại những chuyện tốt đẹp), Sylvie Testud (La Môme), Elodie Bouchez (Tôi ghét con của người khác), Virginie Ledoyen (8 người đàn bà) và một số khác ở độ tuổi 30 đã kết hợp hài hòa giữa phim tác giả và phim giải trí. Trẻ hơn nữa có thể kể đến Ludivine Sagnier (Swimming pool), Gaspard Ulliel (Hannibal lecter), Sara Forestier (L’Esquive) và Jérémie Rénier (Đứa trẻ), đó là những tên tuổi trong tương lai có thể giữ gìn và phát huy truyền thống của điện ảnh Pháp trước nền điện ảnh Mỹ. Ngoài ra, điện ảnh trẻ Pháp không gói gọn trong một phong cách duy nhất : sức mạnh của lớp trẻ hiện nay đó là sự đa dạng. Một số đạo diễn như Jacques Audiard (Trái tim lỗi nhịp), Oliver Dahan (La Môme), Frederic Schoendoerffer(Nhân viên mật vụ), Olivier Assayas (Clean) tiếp cận tích cực với điện ảnh Mỹ, và một số khác như Mathieu Kassovitz (Dòng sông máu), Jean-François Richet (Assaut), Jean-Pierre Jeunet (Amélie Poulain) và Christophe Gans (Le Pacte des loups) chấp nhận đề xuất của các hãng phim và đi quay phim ở Hollywood. Điện ảnh tác giả cũng có một vị trí quan trọng hiện nay. Những đạo diễn tiêu biểu cho phong cách này là François Ozon (8 người đàn bà), Arnaud Desplechin (Vua và Hoàng hậu), Pascale Ferran (Lady Chatterley), Pierre Salvadori (Hors de prix), Anh em Larrieu (Peindre ou faire l’amour). Những đạo diễn khác thiên về thể loại phim tình cảm-hài với kinh phí trung bình nhưng đề tài gần gũi với cuộc sống và diễn viên nổi tiếng để thu hút khán giả : Xavier Giannoli (Khi tôi còn là ca sĩ), Philippe Lioret (Anh khỏe, em đừng lo), Dominik Moll (Lemming)… Về thể loại phim hài thuần túy, đây là những phim thường xuyên đứng đầu danh mục phim ăn khách ở Pháp : các phim có sự tham gia của các diễn viên Eric và Ramzy (Hai con số không), Gad Elmaleh (Hors de prix), Franck Dubosc (Camping), Michael Youn (La Beuze) hoặc Jean Dujardin (OSS 17) – xuất thân từ diễn viên hài trên truyền hình, các phim của đạo diễn Eric Toledano và Olivier Nakache (Những ngày hạnh phúc), Eric Lartigau (Giúp anh một tay), Michel Hazanavicius (Brice de Nice) … Từ lâu, tiếng cười luôn có chỗ đứng trên màn ảnh Pháp. ĐẦU TƯ CHO ĐIỆN ẢNH PHÁP ĐANG ĐỨNG TRƯỚC NGUY CƠ CỤC BỘ Sau nhiều tháng thảo luận, lấy ý kiến của giới chuyên môn, Bộ Văn hóa và Truyền thông Pháp đã thông báo ý định cho phép các công ty của Pháp có vốn đầu tư ngoài Châu âu chiếm đa số được tiếp cận các nguồn hỗ trợ khi sản xuất phim ở Pháp. Quyết định này gây ra rất nhiều tranh luận trong giới điện ảnh. Một số người không ngần ngại gọi đây là một trận tuyến mới trong cuộc chiến ngoại lệ văn hóa, thậm chí có người còn nói đó là sự phản bội của Bộ Văn hóa trước áp lực của Mỹ. Ra đời sau Chiến tranh thế giới thứ 2, cơ chế hỗ trợ điện ảnh của Pháp đã chứng tỏ được tính đúng đắn và hiệu quả trong việc bảo tồn và phát huy nền điện ảnh đa dạng và có chất lượng của Pháp. Không giống như các nước Châu âu khác trong đó văn hóa và tài năng của các nhà điện ảnh đều được nhìn nhận, nhờ cơ chế hỗ trợ độc đáo, Pháp đã thành công trong việc duy trì ngành công nghiệp điện ảnh trong nước. Sức mạnh và nét độc đáo trong sáng tạo điện ảnh ở Pháp được nuôi dưỡng từ sự đóng góp của các phim nước ngoài (trong đó đa phần là phim Mỹ) vào quỹ hỗ trợ của thông qua một cơ chế rất đơn giản : các rạp chiếu phim phải đóng thuế doanh thu. Thuế này chỉ dùng để hỗ trợ cho các nhà sản xuất, phát hành phim ở Pháp, chứ không hỗ trợ cho các nhà sản khác. Trong quá khứ, các chi nhánh của các nhà sản xuất Mỹ tại Pháp đã được hưởng cơ chế hỗ trợ này khi họ sản xuất phim Pháp. Có ai phản đối khi biết rằng đa số các phim của François Truffaut và Louis Malle đều được Trung tâm Điện ảnh Quốc gia (CNC) hỗ trợ, mặc dù các công ty con của các tập đoàn Mỹ tham gia vào quá trình sản xuất những phim này ? Thế nhưng từ năm 1992, các công ty này không được tiếp cận nguồn hỗ trợ này trong việc sản xuất một số phim Pháp vì “Chỉ thị Truyền hình không biên giới” đã bị hiểu sai. Gần đây, có hai phim điển hình cho việc hiểu sai chỉ thị của Ủy ban châu âu: phim “Alexandre” của Oliver Stone và phim "Un long dimanche de fiançailles" của Jean-Pierre Jeunet. Một phim được quay ở Pháp, có đạo diễn người Pháp, diễn viên và kỹ thuật viên cũng là người Pháp nhưng lại không được nhận hỗ trợ từ (CNC), trong khi đó phim được quay ở Mỹ, nói tiếng Anh thì được tài trợ với lý do phim đó có vốn đầu tư từ Pháp. Trong bối cảnh khó khăn về việc làm cho các kỹ thuật viên và diễn viên trong nước, thì những sai lầm như trên là không thể không chê trách. Trong khi để bảo đảm công ăn việc làm trong lĩnh vực văn hóa, chính phủ và các chính quyền địa phương nổ lực với quyết tâm thu hút các đoàn làm phim quay phim tại Pháp, thì việc quay lưng lại với những người mong muốn đầu tư phát triển điện ảnh Pháp là một điều đáng lấy làm lạ. Vậy đã đến lúc phải gỡ bỏ những bất cập trong cơ chế này vì thật ra các hãng phim do các công ty ngoài Châu âu kiểm soát đã được tiếp cận nguồn hỗ trợ trong việc phát hành phim, phát hành định dạng video và trình chiếu phim ở rạp. Hiểu được vấn đề này, Bộ Văn hóa và Truyền thông đã quyết định cần phải điều chỉnh lại quy định hiện hành bằng cách khẳng định các công ty không thuộc châu âu vẫn có thể tiếp cận quỹ hỗ trợ với một số điều kiện. Quyết định này không những không gây sốc mà còn phù hợp với xu hướng chung và lịch sử hỗ trợ điện ảnh ở Pháp. Trước thực trạng nhiều mâu thuẫn như trình bày ở trên, nếu không ra quyết định, không hành động thì tình hình sẽ thật sự xấu thêm. Thế nhưng, vừa qua một số người đã viện dẫn những lý do về chính trị và văn hóa, những lý do không thể chấp nhận được, để phản đối chính sách này, trong khi đó lý do thật sự nằm ở chỗ họ sợ các công ty Mỹ, với tiềm lực mạnh, sẽ thu gom một phần đáng kể nguồn quỹ hỗ trợ. Món lẩu thập cẩm được pha chế khá điệu nghệ với “ngoại lệ văn hóa”, “đa dạng văn hóa” và “ngoại lệ theo kiểu Pháp”. Ngoại lệ văn hóa là việc lập ra các công cụ pháp lý để các tác phẩm điện ảnh không giống như các món hàng hóa thông thường. Ngoại lệ văn hóa là một phương tiện. Đa dạng văn hóa là việc chúng ta phát triển nền văn hóa của mình khi các nước lớn không áp đặt lối suy nghĩ và lối sống lên các nước nhỏ. Đa dạng văn hóa là mục đích cuối cùng. Ngoại lệ theo kiểu Pháp là cơ chế độc đáo mà chúng ta đã xây dựng sau Thế chiến 2, cơ chế này đã giúp cho nền điện ảnh của chúng ta tồn tại và phát triển. Ngoại lệ theo kiểu Pháp là cơ chế rất thông minh. Việc xem xét điều chỉnh lại cơ chế này không gây hại đến các phương tiện và mục đích của chúng ta. Chúng ta đã tạo ra cơ chế này, đã tốn nhiều công sức để xây dựng nên tiếng nói của mình và đưa tiếng nói đó đến Bruxelles, Geneve và New York; chúng ta đã chiến đấu để khẳng định tầm quan trọng sống còn của sự đa dạng văn hóa. Chúng ta đều biết rõ chưa dành được thắng lợi trong cuộc chiến này, nên không có lý gì lại ích kỉ, cục bộ. Một cơ chế hỗ trợ sản xuất phim ưu tiên xét quốc tịch của nguồn vốn đầu tư hơn tính chất của phim, sẽ được xem như một công cụ bảo hộ đơn thuần về mặt kinh tế. Và trong khi chúng ta đang nỗ lực để chống lại các rào cản cho việc lưu hành phim, thì việc không đề cập tới khía cạnh sản xuất phim chỉ làm cho tiếng nói của chúng ta yếu thêm. Chúng ta đều biết rằng để có thể xuất khẩu được nhiều, cần phải biết đón nhận một cách khôn ngoan. Do đó, ta không thể để những tranh luận của giới chuyên môn (chúng tôi cho rằng đây là những tranh luận hữu ích) chuyển thành những tranh cãi không phù hợp với các giá trị đã gắn kết chúng ta với nhau. Chúng tôi mong muốn niềm đam mê và nhiệt huyết của giới chuyên môn trong làng điện ảnh, một lần nữa đã được thể hiện mạnh mẽ trong tranh luận này, sẽ chỉ hướng về một mục tiêu duy nhất : tăng cường sự năng động trong sáng tạo điện ảnh Pháp và bảo vệ các giá trị của đa dạng văn hóa, những giá trị mà chúng ta đã thống nhất với nhau. Chỉ bằng cách này chúng ta mới thể hiện được sự thống nhất, tương trợ lẫn nhau và sức mạnh, mỗi khi sự sáng tạo điện ảnh lâm nguy. Costa Gavras, Đạo diễn Laurent Heynemann, Đạo diễn Claude Lelouch, Đạo diễn Jean-Paul Salomé, Đạo diễn Bertrand Tavernier, Đạo diễn Audrey Tautou Sinh năm 1976, Audrey Tautou, diễn viên Pháp đã gây được ấn tượng qua bộ phim « Vénus Beauté Institut » của Tonie Marshall và nhờ đó đã được nhận giải César dành cho nữ diễn viên triển vọng năm 2000. Sau đó, cô được giao vai chính trong phim « Fabuleux destin d’Amélie Poulain » của đạo diễn Jean-Pierre Jeunet. Công chiếu tại Pháp năm 2001, bộ phim này đã gặt hái được những thành công vang dội : thu hút được 7 triệu lượt khán giản tại Pháp và 30 triệu khán giả trên thế giới và đạt được cả cơn mưa giải thưởng : César, Bafta, Lumière, Giải thưởng Liên hoan phim Châu Âu, chưa kể đến 5 đề cử giải Oscars. Và từ đó, “nàng” Tautou trở thành 1 ngôi sao đại diện cho thế hệ diễn viên mới của Pháp. Mối nhân duyên, theo như cách ví von của các phương tiện truyền thông, giữa cô với khán giả Pháp, những người đã rất vui mừng khi tìm được nàng “Audrey Hepburn” của nước Pháp, bắt đầu từ đó. Cô liên tiếp đạt được thành công vang dội với các bộ phim: « A la folie pas du tout » của Laetitia Colombani, « L’Auberge espagnole », « Les Poupées russes » của Cédric Klapisch và « Pas sur la bouche » của Alain Resnais trước khi gặp lại Jean-Pierre Jeunet trong bộ phim « Un long dimanche de fiançailles » năm 2004. Danh tiếng trên trường quốc tế đã mang lại cho cô những vai diễn trong các bộ phim nước ngoài : « Dirty pretty things » của Stephen Frears, « Happy end » của Amos Kollek trước khi cùng Tom Hanks tham gia bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết Da Vinci Code, một tác phẩm lớn của Ron Howard đã được trình chiếu tại buổi khai mạc của Liên hoan Phim Cannes lần thứ 59. Hai bộ phim Pháp cô tham gia mới đây: Hors de Prix của Pierre Salvadori và Ensemble c’est tout của Claude Berri đã đạt được đỉnh cao về doanh thu. Costa-Gavras Sinh ngày 13 tháng 2 năm 1933, tại Athen, trong một gia đình gốc Nga, Konstantinos Costa-Gavras định cư ở Paris năm 1951 và nhập quốc tịch Pháp năm 1968. Ông có bằng cử nhân văn chương, sau đó vào học ở Học viện cao cấp điện ảnh (IDHEC) và trở thành trợ lý của đạo diễn Henri Verneuil và Jacques Demy. Ông cũng làm trợ lý của đạo diễn René Clément cho phim Ngày và Giờ, trong thời gian làm phim này Ông gặp gỡ và kết bạn thân với Simone Signoret và Yves Montand. Năm 1965, Ông viết kịch bản chuyển thể từ truyện của Sébastien Japrisot và thực hiện phim Compartiment Tueurs, với sự tham gia diễn xuất của Simone Signoret, Yves Montand và Pierre Mondy. Phim này đã gặt hái nhiều thành công lớn ở Pháp và ở Mỹ. Sự nghiệp của Ông thật sự đạt đến đỉnh vinh quang vào năm 1969 với thành công vang dội và bất ngờ của phim Z, một bản cáo trạng chống lại chế độ độc tài của các tướng lĩnh Hy lạp. Bộ phim này gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện. Trong một chuyến về thăm Hy Lạp, Costa-Gavras tình cờ phát hiện ra quyển sách Z của Vassilis Vassilikos mô tả lại quá trình ám sát một lãnh đạo cánh tả do cảnh sát thực hiện nhưng sau đó được ngụy trang thành một tai nạn thông thường. Ngay khi trở về Pháp, Ông đã quyết định cùng với Jorge Semprún chuyển thể câu chuyện ghi trong sách thành kịch bản phim. Vì không tìm được kinh phí để thực hiện phim nên Ông kể chuyện này cho Jacques Perrin (Ông đã quen biết Jacques từ khi làm phim Compartiment Tueurs). Sau đó, Jacques lập hãng phim riêng và tranh thủ các mối quan hệ của mình, đặc biệt là ở Algêri, nơi được chọn làm bối cảnh cho phim. Diễn viên Jean-Louis Trintignant đồng ý tham gia phim với tiền cát-xê ích ỏi, còn Yves Montand tình nguyện đóng góp cho phim. Sau đó, bộ phim đã gặt hái thành công vang dội trên khắp thế giới và được trao giải của Ban giám khảo Liên hoan phim Cannes, giải Oscar cho phim nước ngoài hay nhất và giải Oscar cho dựng phim hay nhất. Costa-Gavras đã tìm được con đường của mình : con đường điện ảnh chống lại cường quyền. Từ đó, các phim của ông lần lượt ra đời : Lời thú tội (về những thanh trừng của Stalin ở Tiệp Khắc cũ), Giới nghiêm (tố cáo những can thiệp của CIA vào các nước thuộc thế giới thứ 3), Mất tích (nói về vai trò của Mỹ trong việc làm sụp đổ chế độ Allende ở Chi Lê - phim này đã giành giải cành cọ vàng và giải diễn viên hay nhất ở LHP Cannes và giải Oscar cho kịch bản hay nhất), Hanna K (ủng hộ cuộc đấu tranh của người Palestin trong cuộc xung đột Isarel-Palestin), Bàn tay phải của Quỹ (Cảnh báo về sự trỗi dậy của chủ nghĩa Phát-xit ở Mỹ) và phim Music Box (nói về một tên tội phạm chiến tranh của bọn quốc xã làm ra vẻ một người dũng cảm). Năm 1979, Costa-Gavras gây ngạc nhiên khi thực hiện phim Người đàn bà lộng lẫy (chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Romain Gary). Sau đó, vào năm 1985, Ông làm phim Hội đồng Gia đình. Hai phim này không hề có liên quan đến chính trị. Tuy nhiên, Romain Gary cho rằng đây là lần đầu tiên Ông cảm thấy hài lòng về việc chuyển thể một tác phẩm văn học thành phim và Dustin Hoffman thì đánh giá đây là phim về câu chuyện tình đẹp nhất mà ông đã từng biết. Năm 2001, Costa-Gavras làm phim Amen (với sự tham gia của Matthieu Kassovitz), phim tâm lý lịch sử về sự thông đồng giữa Nhà thờ thiên chúa giáo và bọn quốc xã. Năm 2005, Ông làm phim Máy chém, kể về một nhân viên cao cấp khoảng 40 tuổi, do José Garcia đóng, bị thất nghiệp và giết lần lượt các ứng viên cạnh tranh với anh ta. Năm 2006, Costa-Gavras thực hiện phim Ngài đại tá của tôi, kịch bản của Laurent Herbiet chuyển thể từ tiểu thuyết của Francis Zamponi đề cập đến nỗi giằn vặt trong cuộc chiến tranh ở Algêri. Eric Toledano và Olivier Nakache Eric Toledano và Olivier Nakache đồng đạo diễn cho phim ngắn đầu tay của mình vào năm 1995, phim Ngày và Đêm với sự tham gia của Zinedine Soualem và Julie Mauduech. Sau một thời gian chia tay vì phải đi làm trợ lý đạo diễn, năm 1998, hai người tái hợp để cùng nhau viết kịch bản và thực hiện phim ngắn thứ 2 mang tên « Les Petits Souliers » với các diễn viên chính Gad Elmaleh, Jamel Debbouze, Roschdy Zem, và Gilbert Melki. Phim này được quay bằng phim super 16, với thời lượng 25 phút và đã được những người mến mộ phim ngắn đón chào nồng nhiệt. Phim đã được chọn tranh giải tại LHP Clermont-Ferrand và giành giải thưởng khán giả tại LHP Paris năm 1999. Ngoài ra, phim cũng giành được hơn 10 giải thưởng ở các LHP ở Pháp và ở nước ngoài và được chiếu trên kênh truyền hình France 3 và trên các kênh truyền hình cáp, vệ tinh. Sau đó, hai người tiếp tục hợp tác và đến năm 2001, họ đã thực hiện phim Những ngày hạnh phúc, phim nhựa 35mm với thời lượng 17 phút, có sự tham gia của Lorant Deutsch, Lionel Abelanski, Omar và Fred và Barbara Schulz. Với phim này, một lần nữa họ đã gặt hái thành công : Giải thưởng Ban giám khảo và giải khán giả tại LHP hài ở Meudon năm 2001. Giải thưởng khán giả tại LHP ở Potiers và ở Sarlat trong cùng một năm. Phim này cũng được Unifrance tuyển chọn giới thiệu trong khuôn khổ LHP Pháp ở Richmond, bang Virginia (Mỹ) và được Hội đồng xét duyệt phim năm 2002 của Trung tâm điện ảnh quốc gia (CNC) trao giải thưởng chất lượng phim. Phim « Những ngày hạnh phúc » cũng được chiếu trên đài France 3 của Pháp, và nhiều đài khác… Năm 2005, hai người cùng hợp tác làm phim truyện dài đầu tay có tựa đề Tôi thích chúng ta vẫn là bạn với sự tham gia của Gérard Depardieu và Jean-Paul Rouve. Một năm sau đó, Jean-Paul Rouve lại tiếp tục tham gia phim Những ngày hạnh phúc của chúng ta, phim thứ 2 của hai đạo diễn này và đã gặt hái được rất nhiều thành công khi công chiếu ở rạp. Frédéric Schoendoerffer Là con trai của đạo diễn Pierre Schoendoerffer, Frédéric Schoendoerffer khởi đầu sự nghiệp của mình vào năm 1985 với vai trò trợ lý đạo diễn trong phim hài Dành cho các chàng trai của đạo diễn Michel Lang. 7 năm sau, anh tiếp tục làm trợ lý đạo diễn cho cha mình Pierre Schoendoerffer trong phim Điện Biên Phủ. Sau đó, anh làm hai phim truyền hình : Kẻ ăn bám (năm 1995) và Hạnh phúc ảo (năm 1997). Năm 1999, anh trở lại với phim điện ảnh bằng việc thực hiện phim truyện dài đầu tay của mình mang tên Nơi xảy ra án mạng. Đây là phim trinh thám với sự tham gia của hai diễn viên Charles Berling và André Dussollier được thực hiện với phong cách gần với phim tài liệu. Phim đã được trao giải Cesar cho phim đầu tay hay nhất. Từ thành công này, Frédéric Schoendoerffer tiếp tục làm phim trinh thám vào năm 2004 với phim Nhân viên mật vụ có sự tham gia của cặp diễn viên Vincent Cassel và Monica Bellucci. 3 năm sau đó, anh tiếp tục làm phim trinh thám với phim Những tên vô lại, phim thể hiện một cách nhìn siêu thực của một băng cướp ở Paris, với sự tham gia diễn xuất của Benoît Magimel, Philippe Caubère và Béatrice Dalle.
Pierre Salvadori Người gốc Tuy-ni-di, Pierre Salvadori cùng với bố mẹ sang định cư ở Paris năm 7 tuổi. Sau khi học xong phổ thông tại trường PTTH François Villon, anh theo học điện ảnh ở Censier và học sân khấu với Jacqueline Chabrier. Sau một thời gian làm việc ở sân khấu, anh chuyển sang viết kịch bản, đặc biệt là kịch bản phim hài tình huống cho Hãng phim AB Productions. Năm 1989, Pierre Salvadori viết kịch bản phim truyện dài đầu tiên của mình. Bốn năm sau, kịch bản này được dựng thành phim Cible émouvante. Phim kể về một bộ ba gồm một tên giết mướn già (Jean Rochefort đóng), một thanh niên có nhiều thiện chí (Guillaume Depardieu đóng) và một cô gái quyến rũ chuyên trộm các tác phẩm nghệ thuật (Marie Trintignant đóng). Cũng trong thời gian này, anh làm một phim ngắn có tựa đề Gia đình. Năm 1995, Guillaume Depardieu và François Cluzet đóng vai đạo diễn tập sự trong phim hài brin loosers nói về những điều xui xẻo xảy đến cho hai người bạn. Đạo diễn Pierre Salvadori cũng mời Marie Trintignant tham gia đóng phim này. Sau thành công lớn của bộ phim, Pierre Salvadori tiếp tục giao cho Marie Trintignant và Guillaume Depardieu các vai chính trong phim Cô nàng nói dối (1998), phim kể về một cô gái nói dối như cuội tự cho mình là một người có thể thừa hưởng một gia tài kết xù và một tay lừa đảo bị hấp dẫn bởi cái gọi là gia tài của cô gái. Năm 2000, Pierre Salvadori thay đổi hướng làm phim. Anh làm phim Những kẻ buôn mộng, phim xã hội đen với Serge Riaboukine, trong vai ông chủ quán bar đi tìm công lý. Nhưng sau đó Pierre nhanh chóng quay trở lại với thể loại phim hài. Anh làm phim truyện dài Sau anh (năm 2003) với cặp diễn viên José Garcia / Daniel Auteuil, kể về tình bạn giữa một người bồi phục vụ nhà hàng và một người đàn ông trầm cảm đang muốn tự tử. Sau đó, Pierre làm tiếp phim Lưới tình, nói về một anh bồi bàn do Gad Elmaleh đóng đem lòng yêu thương một cô gái chuyên bẫy tình do Audrey Tautou đóng. Olivier Dahan Olivier Dahan vào học ở Trường Nghệ thuật Marseille năm 20 tuổi. Năm 1991, anh tốt nghiệp và nhận bằng quốc gia nghệ thuật tạo hình. Với niềm đam mê điện ảnh, từ năm 1988 đến năm 1997, anh đã thực hiện được 7 phim ngắn và nhiều cuộc triển lãm nghệ thuật. Ngoài ra, anh còn thực hiện nhiều video clip cho IAM và Mc Solaar và cho các nghệ sĩ nổi tiếng thế giới như The Cranberries và Zucchero. Năm 1994, Olivier Dahan thực hiện phim truyện dài đầu tay của mình có tựa đề Người anh em, trong loạt phim « Những chàng trai và các cô gái đồng trang lứa » của kênh truyền hình ARTE. Phim đầu tay này sau đó được chọn tham dự Liên hoan phim quốc tế Berlin. Năm 1997, Olivier chuyển qua làm phim điện ảnh với phim Đã chết, phim tâm lý mô tả thế giới của giới trẻ ở Nice, giàu có nhưng có nhiều bất ổn. 5 năm sau đó, sau khi đã làm phim Cậu bé tí hon (năm 2001) được chuyển thể từ truyện ngụ ngôn của Charles Perrault với một phong cách hoàn toàn mới, Olivier quay trở lại làm phim tâm lý với phim Số phận an bài (năm 2002), trong phim này Isabelle Huppert đóng vai một cô gái mại dâm đi tìm lại người chồng cũ của mình. Một năm sau đó, hai nhà sản xuất Alain Goldman và Luc Besson, vốn rất thích phong cách làm phim của Olivier, đã giao cho anh thực hiện phim Rivières pourpres 2 - les anges de l'apocalypse. Olivier tiếp tục mời Benoît Magimel người đã đóng phim Đã chết của anh tham gia phim này. Đầu năm 2004, ý tưởng làm một phim về cuộc đời của nữ ca sĩ Edith Piaf xuất hiện khi anh đọc lướt qua một quyển sách nói về cuộc đời của cô ca sĩ nổi tiếng này. Hai năm sau đó, bộ phim được thực hiện với diễn viên Marion Cotillard trong vai Piaf. Phim này với tựa đề Cô bé được chiếu khai mạc Liên hoan phim Berlin năm 2007 và cũng được chọn tham gia tranh giải chính thức của Liên hoan phim này.
Régis Wargnier Régis Wargnier khởi đầu sự nghiệp điện ảnh của mình với vai trò là phó đạo diễn vào năm 1972 cho phim Người phụ nữ áo lam của đạo diễn Michel Deville và hai phim của đạo diễn Francis Girod (Người anh cả và Thú vui tốt). Năm 1986, ông thực hiện phim đầu tay của mình, phim Người phụ nữ trong đời tôi. Phim này kể về một nghệ sỹ violon nghiện rượu. Sau khi làm xong phim Tôi là lãnh chúa, Ông bắt tay vào làm phim Đông Dương. Phim này đã mang lại cho Ông giải Oscar cho thể loại phim nói tiếng nước ngoài hay nhất vào năm 1993 và mang lại cho diễn viên Catherine Deneuve giải César cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Sau đó, Catherine Deneuve tiếp tục tham gia phim Đông-Tây của Régis Wargnier và đóng chung với Sandrine Bonnaire và Oleg Menshikov. Đạo diễn Régis Wargnier tiếp tục làm phim Một người phụ nữ Pháp với sự tham gia diễn xuất của Emmanuelle Béart trong vai người phụ nữ có chồng bị bắt làm tù binh trong thế chiến 2. Năm 2005, Régis Wargnier trở lại thế giới điện ảnh với bộ phim Man to man, phim về lòng vị tha với sự tham gia của Joseph Fiennes và Kristin Scott Thomas. Là một đạo diễn chuyên chuyển thể các tác phẩm văn học thành phim điện ảnh, Régis Wargnier sau đó lại tiếp tục chuyển thể tiểu thuyết trinh thám của Fred Vargas thành phim Ra đi nhanh chóng và trở về muộn màng. Trong phim này, Régis Wargnier lại mời Phạm Linh Đan tham gia với vai người tình của nhân vật chính trong phim do José Garcia thủ vai.
Phạm Linh Đan – Régis Wargnier, 15 năm sau phim Đông Dương Tháng 4 năm 1992 :Phim Đông Dương của đạo diễn Régis Wargnier được trình chiếu rộng rãi ở Pháp. Bộ phim tình cảm đặc sắc này với các diễn viên Catherine Deneuve, Vincent Perez, Jean Yanne và Dominique Blanc đã nhanh chóng gặt hái nhiều thành công. Phim Đông Dương được quay tại Việt Nam là dịp để diễn viên Phạm Linh Đan, khi đó còn là thiếu nữ người Pháp gốc Việt, trong vai cô con gái nuôi của Catherine Deneuve tìm hiểu về quê hương và nguồn cội của mình. Phần đầu của phim được quay ở Ninh Bình, nằm ở phía Đông Nam Hà Nội. Sau đó, quay ở Hàng Định trong Vịnh Hạ Long…Régis Wargnier đã tìm được nhiều bối cảnh rất đặc sắc xung quanh Hà Nội. Hình ảnh nhà tù Côn đảo, địa ngục trần gian, được dựng tại Hòn Gai, nơi có các mỏ than lộ thiên. Sau đó, đoàn làm phim di chuyển về phía Nam. Lần đầu tiên, đoàn làm phim thực hiện những cảnh quay trong đại nội, tại Huế. Để thực hiện những cảnh quay tại đây, đoàn làm phim phải đồng thời làm hai việc : trùng tu lại khu vực quay và thiết kế mỹ thuật : cung điện của vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của Việt Nam, vào thời điểm đó bị xuống cấp nghiêm trọng : vách đá rêu phủ, gỗ chạm trỗ mối mục. Chính quyền địa phương đã đồng ý để một ê-kíp thực hiện trùng tu lại khu vực này song song với quá trình quay phim. Một năm sau đó, phim Đông Dương đã giành được nhiều giải thưởng trên khắp thế giới, trong số đó phải kể đến 5 giải César – diễn viên hay nhất, vai phụ nữ hay nhất, quay phim hay nhất, thiết kế mỹ thuật đẹp nhất và âm thanh hay nhất, giải Oscar cho phim nói tiếng nước ngoài hay nhất và giải Quả cầu vàng cho phim nước ngoài hay nhất. Cũng trong thập kỹ đó, Đạo diễn Régis Wargnier tiếp tục con đường nghệ thuật của mình và đã cho ra đời hai bộ phim tình cảm đặc sắc khác : Một người phụ nữ Pháp, với sự tham gia diễn xuất của Emmanuelle Béart và Daniel Auteuil, trình chiếu năm 1995 và Đông – Tây với các diễn viên Sandrine Bonnaire và Catherine Deneuve, ra mắt khán giải năm 1999. Trong thời gian này, Phạm Linh Đan tiếp tục con đường học vấn và tạm xa thế giới điện ảnh, mặc dù cô đã được trao giải César cho nữ diễn viên triển vọng nhất với vai diễn trong phim Đông Dương. Năm 2001, Phạm Linh Đan quyết định sang New York để theo nghiệp sân khấu. Sự trở lại của Phạm Linh Đan và Régis Wargnier diễn ra vào cùng năm 2005, tại Liên hoan phim Berlin. Phim Man to Man của Régis Wargnier được trình chiếu vào ngày khai mạc, còn phim Trái tim lỗi nhịp của Jacques Audiard trong đó Phạm Linh Đan đóng một vai quan trọng, là phim tham gia tranh giải. Và Phạm Linh Đan đã được trao Giải nữ diễn viên triển vọng nhất với vai trong phim này. Sau đó, Phạm Linh Đan lại tiếp tục tham gia vào phim của Régis Wargnier chuyển thể từ tiểu thuyết của Fred Vargas : Ra đi nhanh chóng và Trở về muộn màng ra mắt khán giả ở Pháp vào tháng 1 năm 2007. Máy chém Đạo diễn: Costa-Gavras Diễn viên: José Garcia, Karin Viard, Ulrich Tukur, Olivier Gourmet Sản xuất: Hãng phim KG Productions Thể loại: Tâm lý xã hội Thời gian: 122 phút Bị sa thải sau khi công ty sắp xếp lại nhân sự, một cán bộ quản lý cao cấp đã tìm mọi cách kể cả việc giết những người cạnh tranh với mình, để tìm được công việc đúng trình độ của mình. Nhân viên mật vụ Đạo diễn: Frédéric Schoendoerffer Diễn viên: Vincent Cassel, Monica Bellucci, André Dussollier, Charles Berling, Bruno Tadeschini Sản xuất: Hãng phim La Chauve-Souris Thề loại: Hình sự Thời gian: 109 phút Một nhóm gồm 4 điệp viên – đại úy Georges Brisseau, đồng đội của anh Lisa, và hai đồng nghiệp Raymond và Loïc – được cơ quan tình báo Pháp (DGSE) giao nhiệm vụ thực hiện một chiến dịch tại Marốc. Mục tiêu của chiến dịch: răn đe doanh nhân Nga Igor Lipovsky bằng cách đánh chim tàu của ông ta để ngăn cản việc ông này cung cấp vũ khí cho phiến quân ở Angola. Tony, « thiên thần hộ mệnh », sẽ cung cấp quân trang quân dụng và thiết bị lặn cùng thuốc nổ mà Loïc và Raymond sẽ đem gắn vào vỏ tàu "Anita Hans"; còn Brisseau và Lisa sẽ đảm nhận nhiệm vụ phối hợp tác chiến từ một khách sạn sang trong ở Casablanca. Những ngày hạnh phúc của chúng ta Đạo diễn: Eric Toledano, Olivier Nakache Diễn viên: Jean-Paul Rouve, Marilou Berry, Omar Sy, Julie Fournier, Joséphine de Meaux Sản xuất: La Petite Reine, Quad Productions Thể loại: Tâm lý xã hội Thời gian: 100 phút Những cuộc ẩu đả không thể nào quên tại căn-tin, những cuộc tình đầu tiên, những điều thuốc lá đầu tiên, những đêm hội hè đầu tiên, những chuyến thăm quan các viện bảo tàng « phát chán », những đêm ngủ trong lều hay ở ngoài trời… Những việc ấy có gợi cho bạn nhớ đến điều gì không ? Hè này, lần đầu tiên Vincent Rousseau sẽ được giao nhiệm vụ quản lý trại hè ! Với những người quản trò quá cuồng nhiệt, những đứa trẻ không thể kiểm sóat nổi và những chuyến thăm bất ngờ của « Bộ Thanh niên và thể thao », ba tuần lễ ấy sẽ có nhiều biến động hơn dự kiến ! Không phải ai cũng được nghỉ hè ở các trại hè… Ra đi nhanh chóng và trở về muộn màng Đạo diễn: Régis Wargnier Diễn viên: José Garcia, Lucas Belvaux, Marie Gillain, Olivier Gourmet, Michel Serrault, Nicolas Cazalé, Phạm Linh Đan Sản xuất: Hãng phim LGM Thể loại: Trinh thám Thời gian: 115 phút Thanh tra Jean-Baptiste Adamsberg không thích mùa Xuân... Ông ta rất sợ việc nhựa cây tuôn chảy, những ham muốn được giải thoát, sự trỗi dậy của xung năng, sợ tất cả những tín hiệu báo trước mùa xuân đến…Và Adamsberg đã hoàn toàn đúng… Vị hôn thê của ông ta, Camille, bỏ đi và sự vắng mặt của cô ta đã làm cho Ông thanh tra như bị mất hết mọi khả năng vào lúc mà ông ta cần chúng nhất: có một cái gì đó đã rơi xuống thủ đô, một dấu hiệu khó hiểu báo điềm rủi và tai họa sẽ ập đến nếu như ta không giải quyết ngay… Một số dấu hiệu kỳ lạ lan khắp các cao ốc của Thành phố Paris, những lời nói đáng sợ và bí hiểm vang trên quảng trường… Cô bé Đạo diễn: Olivier Dahan Diễn viên: Marion Cotillard, Gérard Depardieu, Clotilde Courau, Emmanuelle Seigner, Pascal Greggory, Marc Barbé, Jean-Pierre Martins, Jean-Paul Rouve, Sylvie Testud, Catherine Allegret Sản xụất: Hãng phim Légende Thể loại: Phim hồi ký Thời gian: 140 phút Phim kể lại cuộc đời và sự nghiệp của Edith Piaf, từ thời thơ ấu đến những vinh quang và gian khổ khó khăn mà Bà đã trải qua, từ thành phố Belleville đến New York. Không một tiểu thuyết gia nào có thể tưởng tượng được một đời đầy sóng gió mà bà đã trải qua với tâm hồn một người nghệ sỹ và trái tim một người phụ nữ kín đáo mà mãnh liệt, dễ tổn thương mà không thể bị khuất phục, một lòng vì nghệ thuật cho tới hơi thở cuối cùng. Một ca sỹ vĩ đại của mọi thời đại…. Lưới tình Đạo diễn: Pierre Salvadori Diễn viên: Audrey Tautou, Gad Elmaleh, Marie-Christine Adam Sản xuất: Hãng phim Les Films Pelléas Thể loại: Tình cảm - hài Thời gian: 103 mn Jean là một nhân viên phục vụ nhút nhát tại một khách sạn lớn, giả dạng là môt nhà tỷ phú để tán tỉnh Irène, một cô gái chuyên bẫy tình. Khi biết được chàng thực sự là ai, nàng đã đá chàng ngay lập tức. Nhưng Jean vì quá yêu nàng nên đã lao đi tìm kiếm và cuối cùng đã tìm được nàng tại Côte d'Azur. Số tiền dành dụm được nhanh chóng hết sạch, nên Jean phải theo chân người yêu trở thành trai bao tại một khách sạng sang trọng. Nhờ đó, chàng có dịp gần gũi với Irène nhiều hơn, và cuối cùng nàng cũng chấp nhận sự hiện diện của chàng. Nàng trở thành cố vấn chuyên môn cho chàng và dần dần thật sự yêu chàng lúc nào cũng không biết.