HOI THAO "GAP GO CHUYEN GIA VIET KIEU"This is a featured page


HOI THAO "GAP GO CHUYEN GIA VIET KIEU" - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION

HOI THAO "GAP GO CHUYEN GIA VIET KIEU" - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION
HOI THAO "GAP GO CHUYEN GIA VIET KIEU" - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION
HOI THAO "GAP GO CHUYEN GIA VIET KIEU" - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION


ỦY BAN NHÂN DÂN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


BAN QUẢN LÝ KHU CÔNG NGHỆ CAO
**********
CHƯƠNG TRÌNH
“GẶP GỠ CHUYÊN GIA VIỆT KIỀU”
“Phát huy nguồn lực trí thức Việt kiều đóng góp vào công cuộc phát triển Tp.HCM. Thí điểm áp dụng tại Khu công nghệ cao và Đại học Quốc gia Tp.HCM”

  1. THỜI GIAN - ĐỊA ĐIỂM:
  1. Thời gian : Ngày 27 & 28/12/2007
  1. Địa điểm : Trung tâm Học tập Phát triển Tp. Hồ Chí Minh (Hochiminh
City Development Learning Center)
Số 178 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, Tp.HCM
Website: www.hdlc.org.vn
Tel: 84-8-9301813.
  1. MỤC ĐÍCH:
  1. Tổng kết kinh nghiệm thu hút, sử dụng nguồn lực của trí thức Việt kiều tại Tp.HCM thời gian qua: điển hình thành công, trường hợp chưa phát huy hiệu quả, định hướng một số việc cần làm ngay trong thời gian tới.
  1. Khu công nghệ cao và Đại học Quốc gia Tp.HCM giới thiệu cụ thể các vị trí làm việc, các dự án mời gọi trí thức Việt kiều tham gia, và các điều kiện, chính sách, chế độ chi tiết để kêu gọi cá nhân, tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp Việt kiều cùng hợp tác, tham gia trực tiếp từ năm 2008 trở đi.
  2. Tổng hợp các ý kiến đóng góp của anh chị em trí thức Việt kiều để thống nhất trình Trung ương và Thành phố thực hiện một vài điểm chính sách bức thiết, tạo môi trường thuận lợi để phát huy nguồn lực trí thức Việt kiều.
  1. CHƯƠNG TRÌNH:
Ngày 27/12:
Buổi sáng (8:00 – 12:00) : Tham quan KCNC và ĐHQG Tp.HCM
Buổi trưa (12:00 – 14:00) : Ăn và nghỉ trưa tại ĐHQG Tp.HCM
Buổi chiều (14:00 – 18:00):
  • Báo cáo đề dẫn, thảo luận chuyên đề của các nhóm 1 và 2;
  • Tiếp xúc giữa các chuyên gia kiều bào với lãnh đạo 2 cơ quan.
Ngày 28/12:
Buổi sáng (8:00 – 12:00) : HỘI THẢO
  • Báo cáo khai mạc
  • Báo cáo thuyết trình về nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo của Thành phố, về nhu cầu thu hút sự đóng góp chất xám của kiều bào cho sự phát triển đó
  • Báo cáo thuyết trình đã đăng ký của các chuyên gia, trí thức kiều bào.
Buổi trưa (12:00 – 14:00) : Ăn và nghỉ trưa
Buổi chiều (14:00 – 17:00): HỘI THẢO
  • Tiếp tục các báo cáo thuyết trình đã đăng ký;
  • Thảo luận về những vấn đề liên quan đến chế độ, chính sách để thu hút sự đóng góp chất xám của kiều bào cho sự phát triển của đất nước và Tp.HCM.
Buổi chiều (17:00 – 17:30):Báo cáo tổng kết Hội thảo.
  1. NỘI DUNG:
  • Nội dung chuyên môn thứ nhất: Các vấn đề hợp tác với Khu Công nghệ cao
  1. Tạo thuận lợi cho các dự án công nghệ cao của chuyên gia Việt kiều;
  2. Hợp tác trong nghiên cứu, khai thác các phòng thí nghiệm nano; bán dẫn; cơ khí chính xác; và dự án Phòng Thí nghiệm sinh học (mời đầu tư)
  3. Hướng phát triển công nghệ cao tại Thành phố;
  4. Việc lập một mạng (network) công nghệ cao của Thành phố.
Thảo luận trong Nhóm 1(chiều ngày 27/12), do Ông Nguyễn Đình Mai, Trưởng ban quản lý Khu Công nghệ cao chủ trì cuộc thảo luận.
  • Nội dung chuyên môn thứ 2: Các vấn đề hợp tác với Đại học Quốc gia Tp.HCM
  1. Hợp tác trong công tác giảng dạy;
  1. Hợp tác trong công tác quản lý;
  2. Hợp tác trong Phòng Thí nghiệm Nano (Nano Lab);
  3. Hợp tác trong Trung tâm đào tạo, nghiên cứu thiết kế vi mạch (Integrated Circuit Design Research & Education Center- ICDREC).
Thảo luận trong Nhóm 2(chiều ngày 27/12), do Ông Phan Thanh Bình, Giám đốc Đại học Quốc Gia Tp.HCM chủ trì cuộc thảo luận.
  • Nội dung chuyên môn thứ 3: Chế độ, chính sách để thu hút sự đóng góp chất xám của kiều bào cho sự phát triển của đất nước và Tp.HCM.
  1. Các chế độ, chính sách để thu hút sự đóng góp chất xám của chuyên gia, trí thức kiều bào;
  1. Các rào cản cần được tháo gỡ, vấn đề gì bức thiết nhất cần đề xuất giải quyết ngay?
  2. Nhiệm vụ và phương thức hoạt động của tổ chức cầu nối (Câu lạc bộ Khoa học và Kỹ thuật người Việt Nam ở nước ngoài)
Thảo luận tại Hội trường(chiều ngày 28/12), dự kiến do Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài Bộ ngoại giao chủ trì Tham luận tại Chương trình gặp gỡ chuyên gia Việt kiều. Thành phố Hồ Chí Minh 27-28/12/2007. VIỆT KIỀU VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO CỦA VIỆT NAM. TS. Hoàng Xuân Bình – Chủ tịch Business & Investment Group ASEANEU ( Ba Lan). Ths. Hoàng Đông Quang – Chủ tịch quỹ quảng bá các thành phố ( Ba Lan). Việt Nam đang trên đường hiện đại hóa nền công nghiệp dựa vào sự phát triển và ứng dụng công nghệ cao. Bài viết đề cập tới một số kinh nghiệm của các nước Đông Âu trong lĩnh vực này để tham khảo, cũng như biện pháp phát huy tiềm năng Việt kiều hỗ trợ cho công cuộc hiện đại hóa nền công nghiệp Việt Nam. Mục tiêu phấn đấu của Việt Nam đến năm 2010 sẽ thoát nghèo và đến năm 2020 là quốc gia có nền công nghiệp hiện đại. Từ thực tiễn, Việt Nam kỳ vọng sẽ có những đột phá bằng chiến lược phát triển, ứng dụng công nghệ cao - một lĩnh vực có hàm lượng trí thức lớn, tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh trong nền kinh tế trí thức và hội nhập toàn cầu. Kinh nghiệp của các nước Đông Âu. Cũng như Việt Nam, các nước Đông Âu từ những năm 90 đã có chính sách công nghiệp hóa đất nước dựa vào phát triển nền công nghệ cao. Ban đầu, một mặt tạo điều kiện cho các công ty nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực đòi hỏi kỹ thuật cao, mặt khác các công ty trong nước tập trung sản xuất các sản phẩm tận dụng lao động rẻ và đáp ứng nhu cầu đang thiếu và còn thấp của thị trường nội địa. Nhà nước tập trung ưu tiên cho một số nghành công nghiệp trọng điểm. Sau khoảng 10 năm thực hiện, chính sách này không tạo động lực chung để thúc đẩy tất cả các nghành công nghiệp. Nhất là hiện đại hóa công nghệ (nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuất mới), bảo vệ môi trường, phát triển tiềm năng trí thức, đồng thời hạn chế sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp từ các doanh nghiệp nội địa. Nghành công nghiệp cần khắc phục những yếu điểm như: Lạc hậu về kỹ thuật và mức độ sáng tạo thấp. Ít sản phẩm có hàm lượng cao về chất sám. Thiếu nguồn lao động có trình độ cao, khó khăn tiếp nhận thị trường lao động từ ngoài. Các luật pháp, quy chế phức tạp, không rõ ràng, nhiều hạn chế về bộ máy quản lý hành chính. Chưa hoàn thiện các quy chế bảo vệ sở hữu trí tuệ công nghiệp. Ít các cơ sở nghiên cứu, đầu tư, phổ cập xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường v.v Chuẩn bị cho gia nhập EU, các nước Đông Âu có sự thay đổi chính sách phát triển công nghiệp theo hướng: Tạo cơ chế, điều kiện hỗ trợ chung cho tất cả các nghành công nghiệp, không phân biệt lĩnh vực và bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế. Chính sách hỗ trợ bằng cơ chế tài chính ( có thể từ các quỹ của EU) hay các cơ chế phi tài chính bằng cách thay đổi luật pháp, quy định hiện hành cản trở sự phát triển kinh tế. Chính sách chung của chính phủ tập trung cải tiến và hỗ trợ cho các hướng sau: - Nghiên cứu, phát triển khoa học, sự sáng tạo. Thực chất là gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với doanh nghiệp. Hỗ trợ các xí nghiệp vay vốn hiện đại hóa công nghệ hay thành lập các cơ sở nghiên cứu sáng chế. Đặc biệt với các dự án tiết kiện năng lượng, sử dụng vật liệu mới, hạn chế ảnh hưởng môi trường, tăng thêm lao động. Hỗ trợ tài chính cho các cơ sở khoa học nghiên cứu theo yêu cầu của các xí nghiệp. Tăng cường hợp tác khoa học với các cơ sở nước ngoài. Hỗ trợ, khuyến kích các sinh viên, nghiên cứu sinh tham gia hoạt động khoa học để phát triển công nghiêp. Tăng thêm các quỹ đầu tư cho sáng chế, nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao công nghệ mới v.v - Phát triển kỹ thuật tin hoc và truyền thông. Hỗ trợ các doanh nghiệp nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tin học trong sản xuất và điều hành. Thành lập các trung tâm dịch vụ hiện đại, các trung tâm IT. Xây dựng hệ thống đồng bộ về hạ tầng tin học, thông tin, phục vụ kinh tế, xã hội, chương trình chính phủ điện tử. - Đào tạo lao động. Thực hiện chuẩn hóa lao động theo tiêu chuẩn chung của EU. Có chiến lược đào tạo lao động, nâng cao trình độ cho người lao động qua các chương trình học ngắn hạn, dài hạn. Tăng cường chất lượng giáo dục trong nhà truờng ở mọi cấp học. Gắn đào tạo với thực tế, ứng dụng các công nghệ mới trong giáo dục, đào tạo. Tạo thêm cơ hội cho người khuyết tật có chỗ làm việc. - Bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển công nghiệp bền vững. Đảm bảo lợi ích giữa kinh tế và bảo vệ môi trường. Khuyết khích tiết kiệm và sử dụng các nguồn năng lượng mới. Xây dựng cơ chế quản lý và sử dụng các nguồn vật liệu tự nhiên, tài nguyên môi trường, đặc biệt là nguồn nước. Hình thành các quỹ đầu tư, nguồn tài chính hỗ trợ cho các nghiên cứu ứng dụng công nghệ, vật liệu mới trong công nghiêp thân thiết với môi trường v.v - Phát triển thị trường, thúc đẩy đầu tư. Hỗ trợ cho các xí nghiệp tìm kiếm thị trường quốc tế. Giúp tư vấn, đào tạo nhân viên bán hàng ở nước ngoài. Giúp nghiên cứu thị trường nước ngoài, tham gia hội trợ quốc tế, xây dựng hệ thống dịch vụ điện tử phục vụ các doanh nghiệp. Có chính sách thu hút đầu tư trong các nghành công nghiêp cao. Hỗ trợ cho vay vốn đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu có khả năng cạnh tranh cao v,v. - Bảo vệ trí tuệ, quyền sở hữu công nghiệp. Hỗ trợ các doanh nghiệp bảo vệ sở hữu công nghiệp, sở hữu bản quyền tác giả, sở hữu thương hiệu sản phẩm trong nước và quốc tế. Kiên quyết chống các hiện tượng vi phạm bản quyền, làm hàng nhái, hàng giả v.v. - Phổ cập và chỉnh lý hệ thống luật pháp, quy chế. Xác định các văn bản pháp luật đúng đắn là nguyên nhân cơ bản giúp sự phát triển các nghành công nghiệp nội địa và thu hút đầu tư. Các văn bản cần rõ ràng, thực tế, công khai và luôn có sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tế. - Tiệm cận và sử dụng nguồn vốn. Sử dụng được các nguồn vốn sẽ tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển. Thông thường các nghân hàng ít chú trọng cho vay vốn để doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mới. Để hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư hiện đại hóa công nghệ, ứng dụng khoa học, Nhà nước có các chính sách ưu tiên về thuế, hình thành cơ chế hỗ trợ từ các nguồn vốn ưu đài, nghân sách nhà nước và các quỹ tư nhân. Ngoài ra các doanh nghiệp còn có thể tận dụng những nguồn tài chính từ các chương trình chung của EU hay các quỹ của EU (như quỹ đầu tư Châu Âu – Group EBI) giúp doanh nghiệp đầu tư, hiện đại hóa công nghệ và mở rộng thị trường v.v. Công nghệ cao của Việt Nam. Từ thực tiễn của các nước Đông Âu cho thấy, việc xác định chủ trương, biện pháp đúng là nhân tố quan trong để phát triển công nghệ cao và ứng dụng chúng. Chủ trương này có thể được xây dựng trên một số quan điểm: - Xây dựng chính sách, cơ chế bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế đựơc hưởng lợi từ những hỗ trợ ưu đãi của Nhà nước trong lĩnh vực công nghệ cao và ứng dụng chúng. - Phát triển công nghiệp hiện đại trên nền tảng công nghệ cao vừa là nhiệm vụ, vừa là mục tiêu chung của mọi người. - Cần phát huy tiềm năng nội lực của dân tộc, trên cơ sở đảm bảo những tiêu chuẩn chung của quá trình hội nhập kinh tế, hội nhập khu vực. Thông thường để phát triển công nghệ cao, cần tập trung vào 3 khâu quan trọng: - Thu hút đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao. - Nghiên cứu khoa học, đào tạo các chuyên gia, công nhân kỹ thuật trong lĩnh vực công nghệ cao. - Ứng dụng công nghệ cao trong các hoạt động kinh doanh, sản xuất, quản lý xã hội và đời sống. Các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao mong muốn có các điều kiện hạ tầng tốt, khả năng cung cấp lao động theo yêu cầu và cơ chế chính sách ưu đãi, phù hợp. Đồng thời còn tính đến khả năng cung ứng các phụ kiện, vật liệu để sản xuất sản phẩm cạnh tranh và tiềm năng tiêu thụ trong thị trường nội địa hay khu vực. Hiện nay Việt Nam đang hình thành 2 khu công nghệ cao tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Cần có sự phối hợp và định hướng các lĩnh vực đầu tư để phát huy được tiềm năng của mỗi địa phương, tránh sự dàn trải, lãng phí và cạnh tranh nội địa. Hơn nữa nên có quy hoach tổng thể, nhất là cụm các khu công nghiệp vệ tinh phụ trợ cho mỗi khu công nghệ cao để hình thành khu công nghiệp liên hoàn nhằm tiết kiệm cho sản xuất, thuận lợi nghiên cứu, đào tạo nhân lực. Do đặc thù của mình, hàm lượng chất xám trong các sản phẩm công nghệ cao hay ứng dụng chúng sẽ là yếu tố quyết định chất lượng, giá thành của sản phẩm. Vì vậy mỗi đơn vị nghiên cứu, đào tạo, mỗi doanh nghiệp cần chủ động liên kết, hợp tác và cùng hưởng lợi từ kết quả sáng tạo ra các sản phẩm của mình. Để có nguồn vốn hỗ trợ cho phát triển lĩnh vực công nghệ cao, ngoài nguồn vốn từ ngoài ( như ODA), nghân sách nhà nước, đặc biệt tập trung huy động vốn nội địa. Có chính sách thu hút vốn của các doanh nghiệp, người dân đầu tư cho sản xuất ( không nên để đọng vốn cho đầu cơ về bất động sản), xây dựng thị trường chứng khoán phát triển bền vững, lành mạnh. Có thể đề xuất một số biện pháp thúc đẩy phát triển công nghệ cao của Việt Nam: - Họach định chính sách chung của Nhà nước về chiến lược phát triển công nghệ cao và lộ trình thực hiện. Công bố chính sách để mọi thành phần kinh tế, người dân tham gia góp ý. - Quy họach tổng thể phát triẻn hạ tầng cơ sở cho nghành tin học, viễn thông, truyền hình. Huy động các thành phần kinh tế cùng đầu tư xây dựng hạ tầng này để mọi doanh nghiệp, đơn vị khoa học và người dân đều được hưởng lợi và nâng cao dân trí. - Hình thành cơ chế liên kết khoa học với doanh nghiệp. Đảm bảo quyền tự quyết, tự hạch toán và quyền lợi của các bên cũng như sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp, nhãn hiệu. - Tuyên truyền rộng rãi để mỗi người dân hiểu biết về công nghệ cao, phát huy ý thức dân tộc, khuyến kích sáng tạo, giúp định hướng nghề nghiệp, tự đào tạo mình. - Thành lập các trung tâm giới thiệu sáng kiến, công nghệ, các trung tâm triển lãm, môi giới chuyển giao công nghệ, đào tạo, cung cấp chuyên gia. - Huy động tài chính, phân bổ nghân sách nhà nước, các quỹ đầu tư, nghân hàng hỗ trợ cho doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao và ứng dụng công nghệ mới. Việt kiều với sự phát triển công nghệ cao của Việt Nam. Việt kiều có thể đóng góp được gì cho sự phát triển công nghệ cao Việt Nam dựa trên những tiềm năng của mình? Tiềm năng đó là vốn đầu tư, tri thức, khoa học kỹ thuật và cầu nối quốc tế. Đa số Việt kiều sống và làm việc tại nước ngoài, một số ít doanh nghiệp hay trí thức Việt kiều có điều kiện trực tiếp về đầu tư hay làm việc trong nước. Khai thác tiềm năng vốn, trí thức của Việt kiều nên dựa vào khả năng huy động từ xa làm gốc. Việt kiều hiểu rõ về ưu thế và lợi nhuận khi đầu tư vào các công ty, xí nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao hay ứng dụng chúng, nên có thể đầu tư trực tiếp hay gián tiếp ( qua thị trường chứng khoán) vào các công ty này. Mặt khác cần quảng bá những công ty Việt kiều, công ty liên doanh nước ngoài đang đầu tư tại Việt Nam trong lĩnh vức công nghệ cao, để có thể huy động vốn của Việt kiều tại nước ngoài”*”. Một lợi thế quan trong của Việt kiều là tiềm năng về trí thức trong lĩnh vực công nghệ cao. Sớm hình thành cơ chế và điều kiện để huy động các trí thức Việt kiều, các doanh nhân trí thức hợp tác với các cơ sở khoa học trong nước. Giúp đào tạo, nghiên cứu khoa học, hỗ trợ chuyển giao công nghệ mới. Giúp các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam hay quảng bá giới thiệu và tiêu thụ các sản phẩm của Việt Nam ở thị trường nước ngoài. Tạo điều kiện và phương tiện để các trí thức Việt kiều ( nhất là các trí thức về hưu) có điều kiện tiếp tục làm việc ngắn hạn hay lâu dài tại Việt Nam. Từ những tiềm năng trên có thể đề xuất một số biện pháp cụ thể: - Xây dựng hệ thống dự liệu về Việt kiều. Trước hết cần thành lập danh sách các trí thức, doanh nhân trí thức, các doanh nhân thành đạt của Việt kiều tại mỗi nước. Danh sách này phân theo các chuyên ngành, lĩnh vực hoạt động để rễ liên lạc với nhau, với các đơn vị trong nước. Hình thành bộ phận điều phối chung tại Việt Nam ( như Câu lac bộ trí thức Việt kiều, Hội doanh nghiệp, Phòng thương Mại Việt Nam, Ủy ban về nguời Việt Nam ở nước ngoài). Các dự án, chương trình nghiên cứu, góp ý, phản biện, các lĩnh vực kinh doanh cần sự phối hợp, hợp tác của Việt kiều sẽ đươc ban điều phối kết nối và giúp đỡ thực hiện. - Huy động vốn. Nên thành lập trang WEB của các dự án, các đề tài cần sự đầu tư hay liên kết, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao. Qua đó giúp Việt kiều trực tiếp hay gián tiếp tìm kiếm đối tác để đầu tư. Đối với các dự án lớn ( như dự án quy họach, xây dựng hệ thống hạ tầng tin học, viễn thông của Việt Nam, đặc biệt tại các vùng nông thông, miền núi), nên trực tiếp giới thiệu cho Việt kiều và hợp tác cùng thực hiện. Sớm hình thành cơ chế liên kết, đại lý của các quỹ đầu tư Việt Nam, đại lý của các công ty chứng khoán Việt Nam tại nước ngoài. Khi đó Việt kiều dễ ràng tham gia đầu tư thông qua thị trường chứng khoán của Việt Nam. Hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt kiều trong cùng lĩnh vực kinh doanh liên kết để thực hiện các dự án đầu tư chung tại Việt Nam. - Huy động tiềm năng trí thức, khoa học. Đối với các trí thức đã về hưu nên có chính sách và tạo điều kiện để họ tiếp tục tham gia làm việc, nghiên cứu khoa học, đào tạo tại Việt Nam. Với các trí thức khác cần động viên họ tham gia các chương trình đào tạo ngắn hạn, nghiên cứu, góp ý, phản biện cho các dự án, quy hoạch, đề tài khoa học tại Việt Nam. Cần hình thành trung tâm giao lưu khoa học và đào tạo ngắn hạn tại Việt Nam để các trí thức Việt kiều, các nhà khoa học quốc tế thuận lợi khi tới làm việc tại Việt Nam. Sớm thực hiện dự án xây dựng làng trí thức Việt kiều “**”. - Vai trò cầu nối quốc tế. Vai trò cầu nối quốc tế của Việt kiều bao gồm cả việc giới thiệu các dự án, giúp tìm kiếm các các nhà đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao hay nghiên cứu khoa học. Mặt khác hợp tác với các doanh nghiệp trong nước để tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp Việt Nam ra thị trường nước ngoài. Thông qua Việt kiều tìm kiếm các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, tài chính hỗ trợ đào tạo chuyên gia tại Việt Nam, giúp các sinh viên, nghiên cứu sinh, nhà khoa học sang học tập, nghiên cứu tại các nước. Nên hình thành các phòng thương mại song phương giữa Việt Nam với các nước, trong đó có sự tham gia của các doanh nghiệp Việt kiều. Thành lập các trung tâm môi giới, chuyển giao công nghệ và các dự án sáng tạo có sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp của các doanh nghiệp, trí thức Việt kiều để thu hút đầu tư hay xuât khẩu sản phẩm trí tuệ. Phát triển nền công nghiệp hiện đại trên nền tảng phát triển, ứng dụng công nghệ cao là con đường tối ưu để Việt Nam trở thành nước công nghiêp. Để thành công cần có sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, của mọi người dân. Hy vọng với những tiềm năng của mình, Việt kiều góp phần tích cực cho sự phát triển lĩnh vực công nghệ cao, vì sự phồn vinh của đất nước. Vác sa va 14-12-2007. Tài liệu tham khảo: “ * “: Việt kiều với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam. Tham luận Hội thảo doanh nghiệp Việt kiều tại Đà Năng 20/09/2006 – TS. Hoàng Xuân Bình, Ths, Hoàng Đông Quang (Cộng hòa Ba Lan). “ ** “: Dự án xây dựng Trung tâm đào tạo và giao lưu khoa học quốc tế “ Gặp gỡ Việt Nam”- 02/2006. GS. Trần Thanh Vân ( Cộng Hòa Pháp); TS. Hoàng Xuân Bình ( Cộng hòa Ba Lan). CHƯƠNG TRÌNH GẶP GỠ CHUYÊN GIA VIỆT KIỀU “Phát huy nguồn lực trí thức Việt kiều đóng góp vào công cuộc phát triển Tp.HCM. Thí điểm áp dụng tại Khu công nghệ cao và Đại học Quốc gia Tp.HCM”. Tp.Hồ Chí Minh, 27 - 28/12/2007 ------------ Đề án du học tại chỗ bậc Thạc sỹ, Một giải pháp khả thi, đáp ứng yêu cầu đào tạo tiến sỹ của Bộ GD&ĐT GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng, Giáo sư Danh dự trường Đại học Liège, Bỉ.
Tóm tắt Đây là một đề án Cao học đẳng cấp quốc tế, phát xuất từ kinh nghiệm 12 đề xướng, tổ chức, quản lý và điều hành chương trình EMMC tại ĐHBK TP HCM. Đề án này nhằm các mục tiêu sau đây: 1) Giúp các trường đại học, các trung tâm, viện nghiên cứu, đặc biệt tại địa bàn TP HCM, có được đội ngủ thạc sĩ, nghiên cứu sinh có trình độ ngang với các nước phát triển, bổ sung cho đội ngũ thiếu hụt hiện nay. 2) Đào tạo những ứng viên có chất lượng cho cấp bậc tiến sỹ. Cũng như các chương trình EMMC và MCMC đã làm, những học viên tốt nghiệp ở chương trình này sẽ được các trường đại học lớn trên thế giới nhận cho làm nghiên cứu sinh ngay mà không cần phải học thêm các môn bổ trợ. Cũng có khả năng rất cao là các tiến sỹ tương lai này sẽ được học bỗng để tiếp tục lên bậc tiến sỹ mà không cần ngân sách thành phố. 3) Chủ động lựa chọn các giáo sư trong nước, quốc tế hay Việt kiều giỏi, nhiều kinh nghiệm tham gia giảng dạy và hướng dẫn học viên làm luận văn tốt nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ; 4) Thông qua đào tạo, thực hiện chuyển giao công nghệ hiện đại của các nước tiên tiến về Việt Nam, góp phần phục vụ chiến lược “hiện đại hoá, công nghiệp hoá ” đất nước Việt Nam trong thập kỷ tới; 5) Tạo điều kiện gắn việc đào tạo cao học với thực tế Việt Nam, đó là các đề tài luận văn tốt nghiệp của các học viên dưới sự hướng dẫn của các giáo sư nước ngoài và các thầy giáo Việt Nam. Các đề tài này sẽ giải quyết những vấn đề cấp bách mà thực tế của Việt Nam đặt ra; 6) Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên kết và trao đổi kinh nghiệm, tài liệu thông tinkhoa học công nghệ giữa các trường ĐH và các thầy giáo Việt Nam tham gia Đề án với các trường ĐH và các giáo sư châu Âu trong quá trình đào tạo thạc sĩ; 7) Tránh được các vấn đề tụt hậu của đất nước và hạn chế sự chảy máu chất xám của nước đang phát triển bằng việc đào tạo tại chỗ và gửi các giáo sư Bỉ qua thỉnh giảng. 8) Phát huy hiệu quả ngân sách Nhà nước trong công tác đào tạo thạc sĩ và tiến sỹ. Hai chuyên ngành Cơ học Công trình (International Master in Mechanics of Construction) và Mô hình Tính toán các Môi trưởng liên tục (International Master in Modeling and Computation of Continuum) sẽ được triển khai trước nhất vì đây chỉ cần vực dậy chương trình EMMC vưa chấm dứt. Tính hiệu quả và chất lượng của chương trình này cần phải được xem xét mỗ xẻ rõ hơn: Sau 12 năm EMMC đã đào tạo được 216 thạc sĩ trong đó 12 học viên đã bảo vệ thành công bằng tiến sỹ và trên 50 học viên khác đang chuẩn bị bảo vệ luận án Tiến sỹ tại các nước tiên tiến. Sau này theo yêu cầu nhất là với sự góp mặt của chuyên gia Việt kiều đến từ khắp nơi khác, sẽ mở ra cho các ngành khác theo mô hình tương tự. Dự kiến gần 40 học viên sẽ ghi tên theo học và theo kinh nghiệm củ chương trình EMMC khoản 26 thạc sỹ sẽ tốt nghiệp sau 2 năm. Đề án sẽ đưa những chi tiết kế toán rất khả thi và cụ thể cho ta thấy rằng chỉ cần dành chi phí của 3 học viên sang Châu Âu ( 1/3 rẽ hơn sang Mỹ hay Úc…) sẽ đủ vốn để đào tạo số thạc sỹ này với nhiều điều kiện thuận lợi đã nói ở trên! Liège ngày 17 tháng 11 năm 2007 Bài tham luận: VIỆT KIỀU CHÚNG TA TRONG VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐẠI HỌC VÀ SẢN XUẤT THỰC TẾ GSTS. Nguyễn Văn Chuyển - Đại học Nihon Joshi, Tokyo Kính thưa các vị khách quí và các anh chị Việt kiều, hôm nay tôi rất vinh hạnh được tham dự Hội thảo “Phát huy nguồn lực trí thức Việt kiều đóng góp vào công cuộc phát triển TP.HCM”. Bài phát biểu của tôi chú trọng đến 2 vấn đề: xây dựng đại học và sản xuất thực tế. I. XÂY DỰNG ĐẠI HỌC 1. Ý nghĩa đại học Nhận thức về vai trò và chức năng của đại học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xây dựng đại học để định hướng chương trình và phương pháp đào tạo phù hợp. Sự khác biệt của đại học giữa các quốc gia trên thế giới chủ yếu dựa trên nhận thức này. Hiện nay, ở nhiều quốc gia, cách dạy và cách học còn mang ý nghĩa từ chương, nhưng tuyệt đại đa số các nước phát triển, giáo dục đại học đều hướng đến mục tiêu xây dựng con người có kiến thức, khả năng và suy nghĩ đáp ứng được nhu cầu của xã hội, những người đóng vai trò nòng cốt đối với việc xây dựng phát triển xã hội. Trong các nước đang phát triển, một đại học chỉ được đánh giá cao khi đào tạo được nguồn nhân lực dồi dào có khả năng đóng góp tốt cho xã hội của quốc gia đó. 2. Kinh nghiệm của Nhật bản trong vấn đề xây dựng đại học Nhật bản hiện nay có khoảng 500 trường đại học đào tạo hệ từ 4 năm, nhưng nếu kể cả những trường đoản kỳ đại học (hệ 2 năm) con số này lên tới khoảng 900 trường. Kể từ khi Minh trị Thiên Hoàng canh tân nước Nhật, mô hình các trường đại học mới bắt đầu được xây dựng, bao gồm cả đại học của Nhà nước lẫn tư nhân. Thời kỳ này, 7 trường đại học nổi tiếng của Nhật gọi là trường “đế quốc đại học” trải dài từ Hokkaido đến miền nam Kyushu, đều thuộc sự quản lý của Nhà nước và đã đào tạo được rất nhiều nhân tài cho Nhật bản trong đó phải kể đến đội ngũ công nhân viên nhà nước. Trong số các trường đại học tư thục, 2 trường có qui mô lớn nhất là đại học Keio và Waseda, ngoài ra một số trường danh tiếng và có truyền thống lịch sử trong việc đào tạo nhân tài còn có các đại học Doshisha, Tokyo Joshi Ika, Tsudajuku và Nihon Joshi. Đặc biệt, Tokyo Joshi Ika, Tsudajuku và Nihon Joshi là những trường chuyên đào tạo phụ nữ thành nhân tài của Nhật bàn. Hệ thống các trường đại học công lập và tư nhân đều trực thuộc sự quản lý của Bộ Giáo dục Nhật bản. Tại Nhật, chương trình sách giáo khoa từ bậc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đều được Bộ Giáo dục kiểm định và ban hành đồng bộ trên toàn nước Nhật, tuy nhiên đối với giáo dục đại học, Bộ Giáo dục cho các trường tự quyết định chương trình và phương pháp đào tạo. Các trường đại học cũng thành lập nhiều học khoa, tổ chức nhiều chuyên ngành: khoa học xã hội, khoa học nhân văn, kỹ thuật công nghiệp, nông nghiệp, y khoa, dược, sư phạm,… Do số trường đại học tăng nhanh chóng và chương trình đào tạo độc lập, các trường phải cạnh tranh nhau bằng cách thiết kế nội dung tốt và có đầu ra là sinh viên sau tốt nghiệp sẽ là những người có thực lực đóng góp cho xã hội. Trường nào không đạt được mục tiêu này thì không thu hút được sinh viên và thậm chí có trường phải đóng cửa. Do việc xác định mục tiêu chính của đào tạo là đóng góp nhân tài cho xã hội Nhật, nên các đại học ở Nhật ít khi nghĩ đến vị thế của nhà trường trong thứ bậc quốc tế. Ngay cả trường Đại học lớn nhất và danh tiếng nhất Nhật bản là Tokyo, nếu xếp hạng thuộc trong khoảng 20 trường hàng đầu của thế giới nhưng người Nhật vẫn không quan tâm đến thứ tự đó. Cho nên, các đại học được đánh giá cao ở Nhật là những trường mà sinh viên xuất thân từ đó có đóng góp nổi bật cho xã hội, cho guồng máy nhà nước, và trong công nghiệp - sản xuất. 3. Đại học và xã hội Tôi có nhiều kinh nghiệm về hệ thống đại học của Nhật bản và cũng có một số hiểu biết về đại học ở Mỹ. Đại học ở Mỹ cũng chủ trương đào tạo nhân tài cho xã hội. Các trường ở Mỹ như Havard, Yale, Princeton, MIT, Stanford, UC Baley, UCLA,… đều là những trường danh tiếng trong việc đào tạo nhân tài cho xã hội Mỹ. Cho nên chúng ta cần nhận ra là đại học phải gắn liền với xã hội, không thể tách rời xã hội và người dân sở tại. Đại học muốn đóng vai trò quan trọng trong xã hội thì chương trình và nội dung không nên bất di bất dịch mà có những điều chỉnh thay đổi thích hợp, dựa trên những kinh nghiệm từ quá khứ và phân tích được chiều hướng phát triển xã hội, để đáp ứng thích hợp và kịp thời nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội trong tương lai. Vì lẽ đó, tôi nghĩ rằng đại học ở Việt nam cần có sự cạnh tranh giữa các trường đại học và cải tiến đại học theo những kinh nghiệm hữu ích từ các quốc gia phát triển trên thế giới. Đại học phải là nơi đào tạo sinh viên có chất lượng hơn là số lượng. Bằng cấp chỉ là phương tiện tạo cơ hội cho thực tài phát triển. II. SẢN XUẤT THỰC TẾ: Ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, vấn đề sản xuất thực tế trên qui mô lớn là rất khó. Một chu trình sản xuất trong phòng thí nghiệm khác xa so với sản xuất trên qui mô lớn ngoài xã hội. Người ta thường phân biệt khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng, nhưng trên thực tế đây là 2 bộ phận gắn liền với nhau, không thể tách rời. Khoa học cơ bản hỗ trợ cho khoa học ứng dụng, giải thích các sự kiện, từ đó đề ra phương hướng thật sự để ứng dụng. Vấn đề chủ yếu là hướng đi và lương tâm của người làm khoa học để hướng tới ứng dụng. Xã hội Việt nam chúng ta quá coi trọng bằng cấp, kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ. Tiến sĩ chẳng qua chỉ là một người đã được đào tạo và huấn luyện để có thể nghiên cứu độc lập, Tiến sĩ không phải là bến đỗ cuối cùng mà chỉ là ga bắt đầu. Người tiến sĩ nếu dùng không khéo chỉ tạo nhiều ý nghĩ viễn vông không thực tế, và có thể lãng phí công sức, thời gian và tiền của cho những ý tưởng, dự án xa rời thực tế, không có giá trị kể cả cơ bản lẫn ứng dụng. Ở các nước phát triển như Nhật, Mỹ, bằng cấp chỉ là một tài liệu tham khảo chứ không phải là tài liệu đánh giá. Tiêu chuẩn đánh giá chính là thực tài của cá nhân ấy. Ông Ibuka là người sáng lập công ty Sony nổi tiếng thế giới như hiện nay, cũng chỉ là người tốt nghiệp kỹ sư. Ông Honda chỉ là một người thợ sửa xe, không hề tốt nghiệp đại học nhưng xây dựng được công ty Honda tầm cỡ thế giới như hiện nay. Bill Gates - người thành lập công ty Microsoft lừng lẫy toàn cầu, hay Stevens Jobb là người sang lập ra Macintoh và Ipod đều là những người bỏ học đại học giữa chừng. Hay nói đến Việt nam, thần đèn Nguyễn Cẩm Lũy chỉ là người xuất thân từ gia đình nông dân, chỉ học hết lớp 4 nhưng làm được những công việc mà kỹ sư công chánh không làm được. Cho nên chúng ta cần chú trọng đến kiến thức, thực tài chứ không phải bằng cấp. Tôi được biết nhiều anh chị Việt kiều làm trong đại học nhưng có kiến thức sản xuất thực tế đồng thời cũng có nhiều anh chị giữ vị trí quan trọng trong các công ty hàng đầu ở các nước phát triển. Chúng ta nên cố gắng mời những anh chị này hợp tác với trong nước, vấn đề là cộng tác như thế nào. Tôi nghĩ rằng để thu hút các anh chị Việt kiều trong sản xuất thực tế, Nhà nước cần tạo nhiều cơ hội để các anh chị này cộng tác với công ty nhà nước hoặc công ty tư nhân trên cơ sở phát huy khả năng và đóng góp cho sản xuất. Vấn đề thù lao không phải là chính nhưng để công bằng, cần có biện pháp phân bổ lợi nhuận phù hợp từ doanh thu các sản phẩm cụ thể được các anh chị Việt kiều đóng góp công sức để sản xuất. III. KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ CỤ THỂ Như chúng ta đã biết, Trung Quốc là quốc gia thứ ba trên thế giới đã bắn hỏa tiễn lên mặt trăng. Thành tựu này một phần là nhờ vào kiến thức và sự góp sức của các Hoa kiều ở nước ngoài về cộng tác. Trung Quốc ngày nay phát triển rất mạnh về Khoa học- Kỹ thuật (KH-KT): IT, máy móc, dược phẩm; cạnh tranh không chỉ về lượng mà đang bắt đầu chú trọng vào phẩm chất của sản phẩm để cạnh tranh trên thương trường thế giới. Những thành quả này đều có công sức đóng góp của các Hoa kiều trở về các nước phát triển, đặc biệt từ Mỹ. Nam Triều Tiên cũng đã rất thành công trong vấn đề xây dựng KH-KT, nhờ vào việc thu hút kiều dân của họ từ nước ngoài về đóng góp cho đất nước từ hơn 20 năm qua. Sự thành công của Nam Triều Tiên và Trung Quốc là nhờ vào sự kết hợp hài hòa giữa lòng yêu thương và hỗ trợ thích đáng về kinh tế cho người trở về. Việt nam chúng ta có số lượng người Việt định cư hay làm việc ở nước ngoài không phải là ít, đặc biệt trong số đó nhiều anh chị Việt kiều giữ trọng trách tại các trường đại học và các công ty hàng đầu trên toàn thế giới, có kinh nghiệm và khả năng khoa học kỹ thuật cao, hơn nữa rất có tâm huyết cải cách giáo dục, xây dựng đất nước. Thu hút sự hợp tác của các nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài là vấn đề được đặt ra từ nhiều năm qua, và đã có nhiều nỗ lực thực hiện, như đã có nghị quyết 36 của Bộ chính trị về việc này, nhưng thực tế cho tới nay, việc huy động này vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn. Ở góc độ cá nhân, tôi xin đề nghị một số giải pháp trong việc thu hút các anh chị Việt kiều góp sức cho giáo dục đại học như sau: 1. Cần tổ chức những lớp học dài hạn cho những người có thể về nước cộng tác từ 6 tháng – 1 năm hoặc những lớp học ngắn hạn cho những người chỉ có thể về nước trong 1 tuần- 10 ngày. 2. Cách đây 5 năm, tôi đã kiến nghị biện pháp lệch pha (trong đó thời gian của niên học trong nước trùng với thời gian nghỉ hè, nghỉ đông ở các nước phát triển); nhưng tiếc rằng chưa được hưởng ứng. Nếu làm được điều này, chúng ta có thể tận dụng được thời gian và sức lực của các anh chị Việt kiều từ nước ngoài và cả các giáo sư người nước ngoài cộng tác tại các trường đại học trong nước. Điều thuận lợi là hầu hết các giáo sư ở các nước phát triển đều có ngân sách cho họ dự Hội nghị quốc tế hoặc giảng bài, họ không thiếu kinh phí đi lại. Chỉ cần lo chi phí ăn ở, xe cộ; tiền bồi dưỡng là không cần thiết. 3. Cùng với việc đào tạo sinh viên đại học, chúng ta cũng nên tổ chức đào tạo hệ trung cấp ngắn hạn trong 2 năm để xây dựng hạ tầng cơ sở mà hiện nay ta còn yếu. 4. Gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, việc học có thể chủ động và tiện lợi hơn rất nhiều nhờ các giáo trình được thu vào trong những phương tiện nghe nhìn cá nhân như băng hình, băng tiếng, đĩa CD-ROM, phần mềm vi tính, Internet. Điển hình như kỹ thuật thu DVD cũng khá đơn giản, không tốn kém và mất nhiều thời gian. Chỉ cần trang bị khoảng 30.000USD cho thiết bị và một cơ sở nho nhỏ là có thể thực hiện thu DVD được. Theo kinh nghiệm của tôi, trong vòng khoảng 2 giờ đồng hồ có thể hoàn tất thu 1 bài giảng, nội dung giảng nên được soạn dưới dạng powerpoint.Với biện pháp thu DVD, những kiến thức cập nhật trong bài giảng của các giáo sư nước ngoài và các anh chị Việt kiều trong những lần về nước ngắn ngủi, có thể được phát hành rộng rãi khắp đất nước, kể cả những vùng sâu vùng xa mà trước đây rất thiệt thòi trong việc tiếp cận thông tin, cũng như khá tiện lợi cho các sinh viên tại chức (vừa làm vừa học). 5. Nhà nước nên có chính sách cụ thể và tích cực nhằm tạo điều kiện cho các nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài có cơ hội giảng dạy, như là visa lưu trú ngắn hạn cũng như dài hạn cho các anh chị, sắp đặt chỗ ăn ở, xe cộ và giúp giải quyết các vấn đề cá nhân, gia đình để giúp các anh chị thoải mái trong công việc. Tôi hy vọng sau Hội nghị hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu, phân tích cụ thể hơn và có những biện pháp phù hợp thực tế. Tôi xin dứt lời và chúc Hội nghị thành công.
CAC BAI PHAT BIEU Khu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh - Điểm tập trung hợp tác nguồn lực tri thức chuyên gia Việt kiều Nguyễn Đình Mai Trưởng Ban quản lý Khu công nghệ cao Ban quản lý Khu công nghệ cao Tp.HCM trân trọng chào đón sự hiện diện và tham gia nhiệt tình của các anh chị chuyên gia Việt kiều tại cuộc gặp gỡ, trao đổi trong Hội thảo “Phát huy nguồn lực trí thức Việt kiều đóng góp vào công cuộc phát triển Tp.HCM. Thí điểm áp dụng tại Khu công nghệ cao và Đại học Quốc gia Tp.HCM”. Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn những anh/chị Việt kiều không về dự Hội thảo lần này đã dành thời gian viết gửi về cho chúng tôi những ý kiến tâm huyết, những đề nghị chân tình vì sự nghiệp phát triển của đất nước. Trước khi gặp gỡ hôm nay, nhiều anh chị chuyên gia Việt Kiều có dịp đến xem tận mắt kết quả mà Khu công nghệ cao đạt được bước đầu, cả về thu hút đầu tư công nghệ cao và nổ lực hình thành phát triển năng lực khoa học – công nghệ, theo hướng tiếp cận thị trường. Những kết quả ấy có sự đóng góp của nhiều anh chị trí thức Việt Kiều từ ngay giai đoạn thai nghén, 1992 – 1995, trong xác định hướng đi phù hợp cho dự án, xác định mô hình hoạt động và kết nối các đối tác chiến lược quan trọng vào giai đoạn khởi động khu công nghệ cao. Có thể kể tên vài anh chị: Huỳnh Hữu Nghiệp, Lương Bạch Vân, Đặng Lương Mô, Thân Trọng Phúc, Nguyễn Văn Đông, Nguyễn Trí Dũng, Quin Tran, Đào Trung Giang, Đoàn Hồng Hải,..và nhiều người khác. Có khi, một số anh chị Việt kiều về nước chỉ để góp ý, dặn dò nhóm nghiên cứu chiến lược những lời tâm huyết, hoặc tận tình giới thiệu các tập đoàn, công ty có công nghệ nguồn về đầu tư vào Khu công nghệ cao. Cho đến nay, Khu CNC đã thu hút được 30 dự án với tổng vốn hơn 1,5 tỷ USD. Trong đó, Intel là dự án tiêu biểu, và cùng với các dự án khác đang mở ra cơ hội phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, các chuỗi cung ứng công nghệ cao. Không gian khoa học (Science Park) là một dự án/ cấu phần quan trọng nhất của khu công nghệ cao, nhằm tạo lập một không gian tri thức hiện đại thế kỷ 21 cho thành phố Hồ Chí Minh, một môi trường tốt nhất cho R&D, Ươm tạo công nghệ và đào tạo nhân lực công nghệ cao. Sau một số thành công bứơc đầu về thu hút FDI sản xuất sản phẩm công nghệ cao (Intel, Nidec, Jabil, Sonion,..), Ban Quản lý Khu CNC tập trung ưu tiên mời gọi đầu tư các cơ sở R&D vào Khu Không gian khoa học này với những gói ưu đãi cao nhất. Tuy còn rất nhiều vấn đề phải tập trung ở những năm khởi nghiệp, Chính quyền thành phố cũng đã ủng hộ Khu CNC thành lập những đơn vị nghiên cứu-triển khai đầu tiên trong khu, các phòng thí nghiệm các lĩnh vực công nghệ cao, mới như: Vi mạch -Bán dẫn; Công nghệ nano; Cơ khí chính xác – Tự động hoá. Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao đã được thành lập từ tháng 9/2006. Một số hoạt động liên kết đào tạo nhân lực công nghệ đã được bắt đầu từ năm 2006 với đơn vị Trung tâm đào tạo. Qua các hoạt động bước đầu về R&D, Đào tạo, Ươm tạo tuy có những kết quả khích lệ về một kết quả về công nghệ nano, pin nhiên liệu,..một số khóa đào tạo thử nghiệm kỹ năng cho nhân lực trẻ,..Nhưng Ban Quản lý Khu công nghệ cao đã nhận thấy một số hụt hẩng trước mắt: Thiếu nhân sự có kinh nghiệm để tổ chức điều hành một số hoạt động hoàn toàn mới, nhất là việc tiếp cận, liên kết với thị trường khoa học công nghệ quốc tế, chưa có cơ sở vật chất đầy đủ như trụ sở, dịch vụ hỗ trợ, kinh phí, vốn mồi, quỹ đầu tư mạo hiểm. Vấn đề liên kết giữa hoạt động giữa R&D, ươm tạo và công nghiệp vẫn chưa có nhân tố có kinh nghiệm để xây dựng các nền tảng phát triển lâu dài, nhân lực có tay nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp công nghệ cao. Đây là những thách thức cần tập trung vượt qua từ năm 2008 và là vấn đề Ban Quản lý khu công nghệ cao mong các anh chị trí thức Việt Kiều tích cực tập trung hợp tác với thành phố Hồ Chí Minh. Nhu cầu đã rõ, cơ hội hợp tác chung rất lớn, nhưng chúng ta theo lộ trình nào với điều kiện gì và làm gì ngay đầu năm 2008? Về phần Ban Quản lý Khu CNC xin trình bày và đề nghị các anh chị chuyên gia trí thức Việt Kiều xem xét các nhu cầu và cơ hội hợp tác: 1/ Trên cơ sở các kết quả 5 năm qua của dự án Khu công nghệ cao, tiếp tục nghiên cứu đề xuất bổ sung “Định hướng phát triển công nghệ cao - tầm nhìn đến năm 2020”, các suy nghĩ, kinh nghiệm về các ngành của lĩnh vực công nghệ cao nên tập trung đầu tư tại thành phố Hồ Chí Minh. Phương cách phát triển hiệu quả cao nhất. Ban Quản lý Khu CNC sẳn sàng hợp tác “đặt hàng” cho các tổ chức, nhóm nghiên cứu và cá nhân anh chị chuyên gia Việt Kiều về các nghiên cứu này. 2/ Các dự án đầu tư có thể đưa về Khu công nghệ cao thành phố về sản xuất công nghệ cao và sản xuất không nhà máy (fabless), thiết kế, thành lập R&D Labs, Vườm Ươm (Incubators), các dịch vụ hỗ trợ công nghệ cao, kể cả các dự án đầu tư xây dựng khu chuyên đề (dạng đầu tư Developer) như khu sinh học, khu công nghệ vật liệu, năng lượng mới. 3/ Hợp tác nghiên cứu R&D và thị trường hóa kết quả nghiên cứu, hợp tác qua các hợp đồng outscourcing từ nước ngoài. Khu CNC đang khởi động các R&D Labs với một số trang thiết bị hiện đại cơ bản, phòng sạch (Clean Rooms), đội ngũ nghiên cứu viên trẻ, năng động, được tuyển chọn từ các trường trong/ngoài nước và một số kinh phí hỗ trợ ban đầu cho phát triển các ngành lĩnh vực mới từ chính quyền. Sự hợp tác này trên cơ sở cùng chia sẽ lợi ích và kể cả rủi ro trong R&D theo nhiều mô hình khác nhau mà đôi bên thỏa thuận tiến hành ngắn hạn hay dài hạn. Trong các mô hình, phương cách hợp tác có thể anh chị chuyên gia trực tiếp điều hành tại chỗ hoặc vẫn ở nước ngoài hợp tác theo từng mảng công việc, hoặc theo dạng đặt hàng Outsourcing. Đại diện Trung tâm R&D Khu công nghệ cao sẽ trình bày thêm chi tiết để các anh chị cho ý kiến. 4/ Tham gia ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp công nghệ cao với 500m2 đầu tiên đã có các hạ tầng, tiện ích dùng chung cho các công ty ở giai đoạn khởi nghiệp. 5/ Khu công nghệ cao sẽ giành một diện tích thỏa đáng, với giá cả cạnh tranh nếu có được các dự án do các doanh nhân Việt kiều liên kết đầu tư để tạo ra tiện ích thu hút các dự án phát triển phần mềm, thiết kế của các doanh nghiệp Việt kiều khác. 6/ Khu công nghệ cao sẳn sàng liên kết đào tạo hoặc chào đón các dự án đầu tư đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao cho khu và khu vực. 7/ Chúng tôi ý thức được tầm quan trọng của Quỹ đầu tư mạo hiểm trong quá trình triển khai các hoạt động ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp công nghệ cao. Vì vậy, Khu công nghệ cao được chính phủ giao nhiệm vụ thực hiện các ưu đãi khuyến khích hình thành và hoạt động của Quỹ. Đây cũng sẽ là cơ hội đầu tư mà anh chị em tìm thấy ở đây. 8/ Xúc tiến hình thành và vận hành mạng liên kết hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ và nghiên cứu triển khai công nghệ cao. 9/ Khu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh mời các anh chị chuyên gia Việt Kiều thường xuyên tham gia trao đổi ý kiến về các vấn đề hợp tác trong một Forum “Phát triển công nghệ cao tại thành phố Hồ Chí Minh” (trên mạng Internet, địạ chỉ Forum sẽ được thông báo bằng email đến các anh chị sau Hội thảo này). Lần nữa xin chân thành cảm ơn sự đóng góp nhiệt thành của anh chị chuyên gia Việt kiều. Xin ghi nhận các đóng góp vừa qua và xin đón nhận các đóng góp sắp tới. Phát biểu của Ông Phan Thám Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài Tp.HCM (Đề dẫn thảo luận về cơ chế, chính sách đối với chuyên gia, trí thức kiều bào) Nghị quyết 36 NQ/ BCT ngày 26 tháng 3 năm 2004 về công tác đối với Người VN ở nước ngoài đã đánh giá cộng đồng người VN ở nước ngoài “mặc dù sống xa tổ quốc, đồng bào luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, gắn bó với gia đình, quê hương”. Nghị quyết cũng khẳng định chủ trương công tác đối với người VN ở nước ngoài là “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai”. Sau khi Nghị quyết 36 NQ/BCT được ban hành, nhiều chính sách liên quan đến kiều bào đã thông thoáng hơn; ngày càng có đông đảo kiều bào về thăm thân nhân, thăm quê hương, đầu tư sản xuất, kinh doanh…Nhiều chuyên gia, trí thức kiều bào trực tiếp về làm việc hoặc có chương trình hợp tác cụ thể, có hiệu quả với các trường Đại học, cơ quan nghiên cứu, Khu Công nghệ Cao, các cơ cở kinh tế. Ở thành phố còn có CLB Khoa học và Kỹ thuật Việt Kiều thu hút sự quan tâm và tham gia tích cực của chuyên gia, trí thức kiều bào trong và ngoài nước. Tuy nhiên, cho đến nay sự đóng góp của kiều bào, đặc biệt là lực lượng trí thức, chuyên gia chưa tương xứng với tiềm năng vốn có, với kỳ vọng của đất nước và với mong muốn của chính kiều bào. Có nhiều nguyên nhân tác động làm hạn chế sự đóng góp của trí thức kiều bào: - Quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước chưa được quán triệt sâu, rộng đến từng ngành, từng địa phương, trên cơ sở đó có chương trình, kế hoạch triển khai, kiểm tra thực hiện. - Một số chính sách liên quan đến kiều bào như: chính sách thu hút chuyên gia trí thức kiều bào đóng góp xây dựng đất nước, chính sách nhà đất… chậm được xây dựng và triển khai thực hiện làm nản lòng nhiều người trông đợi. - Thông tin 2 chiều giữa kiều bào và trong nước chưa tốt, chưa kịp thời; chuyên gia, trí thức kiều bào đông, giỏi nhưng trường hợp nào phù hợp với nhu cầu trong nước; trong nước cần lực lượng chuyên gia trí thức tham gia công việc gì, ở đâu vẫn không rõ. - Một số trường hợp trí thức kiều bào đã về nước thì việc bố trí, sử dụng không phù hợp với khả năng, sở trường; ở đôi chỗ, cách nhìn, thái độ đối xử chưa tốt; điều kiện, môi trường làm việc còn khó khăn. Chưa có nhiều điển hình thành công. - Số đông trí thức chưa về nước có tâm trạng e dè, chờ đợi, chưa an tâm… Ngoài các nguyên nhân nêu trên, còn nguyên nhân, rào cản nào khác nữa không? Ví dụ như tổ chức làm công tác đối với kiều bào, trí thức kiều bào, các tổ chức của kiều bào, các tổ chức làm cầu nối giữa kiều bào và trong nước đã phù hợp chưa? Làm thế nào để nhanh chóng giải quyết các nguyên nhân, tháo gỡ các rào cản để củng cố niềm tin, động viên, thu hút mạnh mẽ sự đóng góp của kiều bào mà tập trung là lực lượng chuyên gia trí thức, nguồn lực quan trọng của cộng đồng người Việt nam ở nước ngoài và đáp ứng yêu cầu cấp thiết của đất nước trong thời hội nhập kinh tế quốc tế. Đó là yêu cầu nội dung chúng ta sẽ tập trung trong buổi hội thảo chiều nay. Mong rằng quí vị sẽ đóng góp ý kiến thẳng thắn, trách nhiệm và cụ thể để tham gia giải quyết một trong những vấn đề quan trọng nhất hiện nay của đất nước ta, là làm thế nào phát huy hiệu quả nguổn lực của chuyên gia, trí thức kiều bào phục vụ cho nhiệm vụ phát triển bền vững của đất nước. Xin cám ơn quí vị đại biểu. Phát biểu của PGS.TS.Phan Thanh Bình Giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM Kính thưa quí vị kiều bào, Nghị quyết 36/NQ-TW đã khẳng định “Kiều bào là một bộ phận không thể tách rời và là nguồn lực của dân tộc Việt Nam” điều đó cho thấy rõ quan điểm của Việt Nam, đánh giá rất cao về vai trò và vị trí đối với đất nước chúng ta. Theo thống kê, hiện nay có hơn 300.000 trí thức người Việt nam ở nước ngoài đã được đào tạo một cách bài bản ở những nước có nền giáo dục chất lượng cao, uy tín, có chuyên môn cao trong nghiên cứu khoa học và có kinh nghiệm làm việc ở các nước tiên tiến, một số trí thức nắm giữ vị trí quan trọng trong các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các công ty và các tổ chức quốc tế. Đây sẽ là nguồn lực tiềm năng đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước, giúp Việt Nam “đi tắt đón đầu” kỹ thuật, công nghệ mới, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, tạo dựng quan hệ hợp tác với các cơ sở kinh tế, khoa học ở các nước. Kính thưa quý vị, ĐHQG-HCM là một trong hai trường ĐHQG tại Việt Nam, 1 đặt tại Hà Nội & 1 đặt tại TpHCM. ĐHQG-HCM là một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học - công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến, làm nồng cốt cho hệ thống giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay, ĐHQG-HCM gồm 05 trường đại học thành viên, 01 Viện nghiên cứu, 01 Khoa trực thuộc và một số trung tâm nghiên cứu và dịch vụ: Trường Đại học Bách khoa, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội - Nhân văn, Đại học Quốc tế, Đại học Công nghệ Thông tin, Viện Môi trường - Tài nguyên, Khoa Kinh tế, Khu Công nghệ phần mềm, Thư viện Trung tâm, Trung tâm Đào tạo Quốc tế, Trung tâm Khảo thí và Đánh giá Chất lượng Đào tạo, Trung tâm Giáo dục Quốc phòng, Trung tâm Ngoại ngữ, …. Ngoài ra, Trường Phổ Thông Năng Khiếu thuộc ĐHQG-HCM chịu trách nhiệm đào tạo học sinh năng khiếu thuộc các ngành Toán, Tin học, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Văn học, Tiếng Anh Với 120 ngành đào tạo bậc đại học, 88 ngành đào tạo bậc thạc sỹ và 90 ngành đào tạo bậc tiến sỹ, hiện tại ĐHQG-HCM có hơn 48.000 sinh viên đại học chính quy, 5.560 học viên cao học và hơn 400 nghiên cứu sinh. Về đội ngũ, ĐHQG-HCM có tổng cộng 3.420 cán bộ - công chức bao gồm 2.085 cán bộ giảng dạy trong đó Giáo sư và phó giáo sư là 151 người Trong chiến lược phát triển của mình, ĐHQG-HCM luôn tập trung thực hiện việc xây dựng đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu đô thị đại học mới của ĐHQG-HCM. Bên cạnh đó, việc tìm kiếm và thiết lập các mối quan hệ với các đối tác nước ngoài, mà trong đó, kiều bào Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài luôn là những ưu tiên hàng đầu của chúng tôi. Dựa trên những cơ sở nêu trên, ĐHQG-HCM rất vinh dự được đón tiếp, làm việc và trao đổi ý kiến cũng như tìm hiểu nguyện vọng của quí vị nhằm tìm kiếm cơ hội hợp tác với quí vị trên các lĩnh vực: Giảng dạy, quản lý, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, kể cả đầu tư và những mối quan tâm khác dựa trên nguyên tắc cả hai bên cùng có lợi, hợp tác lâu dài, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Kính thưa Quý vị, qua chương trình gặp gỡ lần này, chúng tôi mong muốn được lắng nghe những ý kiến đóng góp, những trao đổi thẳng thắn về nguyện vọng cũng như yêu cầu của quí vị khi về nước làm việc nói chung và khi hợp tác với ĐHQG-HCM nói riêng để phát triển những hợp tác chủa chúng ta trong tương lai. Nhân dịp năm mới tôi xin thay mặt ĐHQG-HCM kính chúc sức khỏe toàn thể quý vị và gia đình, một năm mới an khang và thịnh vượng. Trân trọng kính chào.
DANH MỤC CÁC ĐỀ DẪN VÀ BÀI THAM LUẬN PHẦN I: CÁC PHÁT BIỂU ĐỀ DẪN
  1. Phát biểu của Ông Nguyễn Thành Tài – Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh
  2. Đề dẫn Ủy Ban về Người Việt Nam ở nước ngoài TP.Hồ Chí MinhPhan Thám - Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài TP.Hồ Chí Minh
  3. Đề dẫn Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí MinhPhan Thanh Bình – Giám đốc Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh
  4. Đề dẫn Khu Công nghệ cao TP.Hồ Chí MinhNguyễn Đình Mai - Trưởng Ban quản lý Khu công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh
PHẦN II: CÁC BÁO CÁO THAM LUẬN
  1. Việt kiều với sự phát triển công nghệ cao của Việt NamTS. Hoàng Xuân Bình - Chủ tịch Business & Investment Group ASEANEU (Ba Lan) và ThS. Hoàng Đông Quang - Chủ tịch quỹ quảng bá các thành phố (Ba Lan)
  2. Rút ngắn khoảng cách giữa Việt Nam và thế giới về thiết kế vi mạchTS. Phạm Năng Tùng – Chuyên gia thiết kế vi mạch, Qualcomm, USA - Cố vấn cao cấp ICDREC - Đại học Quốc Gia TP.HCM
  3. R&D in a private software enterprise: opportunies for collaboration - Nguyễn Hữu Lệ – Chairman, TMA
  4. Thực hiện mạng tế bào di động không dây UMA (GSM-GPRS) trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa TS. Bùi Văn Minh, Thành viên OVS Club
  5. Ứng dụng công nghệ thông tin vào cải cách hành chínhTrương Minh, Thành viên OVS Club
  6. Dự án phối hợp đào tạo tại chỗ bậc thạc sĩ, một giải pháp khả thi, đáp ứng yêu cầu đào tạo tiến sĩ của Bộ GD&ĐT GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng, Giáo sư Danh dự Trường Đại học Liège, Bỉ
  7. Việt kiều chúng ta trong vấn đề xây dựng đại học và sản xuất thực tế - GS.TS Nguyễn Văn Chuyển - Đại học Nihon Joshi, Tokyo
  8. Đào tạo và chuyển giao công nghệ - TS. Đỗ Đắc Vọng – Công ty Thiên Việt Kỹ thuật (Provina Technology Ltd.)
  9. Xây dựng mạng lưới liên kết công nghệ cao để phát triển - Nguyễn Trí Dũng
  10. Về chế độ, chính sách đối với trí thức kiều bào – TSKH. Trần Hà Anh, Câu lạc bộ KH&KT Người Việt Nam ở nước ngoài
  11. Làm sao để biến chất xám Việt kiều trở thành “con gà đẻ trứng vàng” trong sự nghiệp đổi mới của đất nước – TS. Nguyễn Chánh Khê, Giám đốc Khoa học, Trung tâm R&D, Khu Công nghệ cao TP.HCM
  12. Việt kiều và đất nước trong bước đường hội nhập. Case study: Nông nghiệp Việt Nam – TS. Nguyễn Quốc Vọng, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
  13. Việt Nam cần gì ở các chuyên gia Việt kiều – TS. Nguyễn Quốc Bình, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ sinh học TP.HCM
  14. Giải quyết bài toán thu hút trí thức Việt kiều dưới góc độ kinh tế họcLương Tuấn Anh
  15. Tham luận góp ý kiến – Hà Dương Đức, Giám đốc Officience Co. Ltd, TP.HCM
  16. Vietnam ICT development needs, issues, opportunities and recommendations to local and overseas ICT Vietnamese professionals Hoàng Ngọc Diệp – Senior Director, Business Developmenst Country Manager – Vietnam, Lao & Cambodia
  17. Đề án thành lập trung tâm công nghệ thiết kế và mô phỏng cao cấp CMMC – GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng, Giám đốc Công ty Hưng Việt Technology, Việt Nam
  18. Bóng đèn LED tiết kiệm năng lượng TS. Từ Trung Chấn, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ Nano phát sáng
  19. Dự án trường đào tạo công nghệ cao Sài gòn (SAIT) Cao Hữu Trí & Nguyễn Thiện Tống
  20. Anh văn để hội nhập với thế giới – TS. Thái Hồng Lam, Thành viên OVS Club
  21. Góp ý về cơ chế chính sách thu hút trí thức Việt kiềuTS. Tạ Văn Tài
  22. Nanotechnology and the emergent industriesLedu Quoc Nguyen
  23. Hiện đại hóa ngân hàng và tài chính bằng “Đặc khu quốc tế Offshore” Vũ Giản - Người Việt ở Thụy Sĩ
  24. Ngành mô phỏng - Thuận lợi và động lực phát triển kỹ thuật tại Việt Nam – TS. Thanh Nguyen – Bsc. (Hon.)in Applied Maths and Physics, UQ - PhD. In Biomechanical/mechanical Engineering, QUT - Research fellow in Biomechanical modelling, QUT - Senior Structural Analyst, HATCH, Brisbane
  25. Thư góp ý cùng Hội thảoNguyễn Thị Mỹ – Chuyên gia Điều khiển học & Tự động hóa & Kỹ sư môi trường
PHẦN III: THÔNG TIN HỘI THẢO
  1. Thông báo số 1
  2. Thông báo số 2

Hiện-đại hóa Ngân-hàng và Tài-chính bằng «Đặc khu Quốc-tế Offshore»

Cạnh-tranh của các ngân-hàng ngoại-quốc Vũ Giản
Người Việt ở Thụy-sĩ

Theo Hiệp-ước thương-mại Việt-Mỹ thì đến năm 2010, các ngân-hàng Mỹ sẽ được phép mở ngân-hàng con 100% vốn Mỹ ở VN, với điều-kiện có vốn điều-lệ tối thiểu 10 triệu đô-la Mỹ. Có thể điều-kiện này cũng sẽ được đòi hỏi bởi các đối-tác nước ngoài khác, sau khi VN trở nên thành-viên của Tổ-chức Thương-mại Thế-giới WTO.
Tại Hội-thảo « Chọn lựa Chiến-thuật trong công-nghịệp ngân-hàng » ở Hà Nội vào đầu tháng 9/2005, Trung-tâm tư-vấn công-nghệ và đầu-tư ở VN (VietBid) đã phán đoán rằng tới năm 2010, thị-phần của các ngân-hàng quốc-doanh sẽ bị lùi từ 70% xuống 46%, các ngân-hàng cổ-phần sẽ tăng lên 30% (cũng đúng như dự đoán của Ngân-hàng nhà nước với chính-phủ Úc), và các ngân.hàng nước ngoài sẽ tăng gấp đôi tới mức 24%.
VietBid cũng phân tích kết quả cuộc thăm dò ý-kiến cho thấy chiều-hướng lớn mạnh của nhiều doanh-nghiệp VN và các cá-nhân ưa thích chọn các dịch-vụ của các ngân.hàng ngoại-quốc hơn các ngân-hàng VN.
Chiều-hướng này được xác nhận bởi 1 cuộc thăm dò ý-kiến tổ-chức bởi Bộ Kế-hoạch, Đầu-tư VN và Chương-trình Phát-triển của Liên-hiệp-quốc (UNDP) cũng cho biết là :

• 42% các doanh-nghiệp, và 50% tư-nhân được hỏi đều cho rằng sẽ chọn ngân-hàng nước ngoài ở VN để vay tiền, khi những ngân-hàng này được hoạt-động bình-đẳng với ngân-hàng VN.
• 50% doanh-nghiệp và 62% tư-nhân được hỏi cũng sẽ chọn ngân-hàng nước ngoài để gửi tiền tiết-kiệm.
Những lý-do của sự chọn lựa ngân-hàng nước ngoài là vì họ có kinh-nghiệm hoạt-động quốc-tế, có trình-độ công-nghiệp ngân-hàng cao, thủ-tục hành-chính đơn giản, và chất-lượng phục-vụ tốt hơn ngân-hàng trong nước.
Như vậy các doanh-nghiệp VN và những cá-nhân chủ-yếu sử dụng các dịch-vụ của ngân-hàng nuớc ngoài hơn là ngân-hàng VN (mặc dầu họ đã cố gắng liên-kết bán cổ-phần cho ngân-hàng nước ngoài, để « cùng làm, vừa học ») thì sợ rằng ông Trần-Du-Lịch, giám-đốc Viện kinh-tế TP.HCM có lý khi ông « bày tỏ (với AFP) mối quan-ngại đặc biệt về tương-lai của các khu vực như dịch-vụ, thị-trường tài-chính, tín-dụng, ngân-hàng và nông-nghiệp VN hiện đang tụt hậu rất xa so với tiêu-chuẩn quốc-tế»
Trong quá-trình « hiện-đại hóa » dịch-vụ ngân-hàng theo chỉ-thị số 49/2004/CT-TTg của thủ-tướng chính-phủ, thì « Cần đẩy mạnh hệ-thống thanh-toán qua ngân-hàng để hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong quan hệ thương-mại ». Nhưng các ngân-hàng VN đã theo « phong-trào » phát hành Thẻ (mà tiện-ích chủ yếu là dùng để thanh-toán hàng hóa, dịch vụ thay vì dùng tiền mặt), nhưng thực-tế hơn 70% các giao dịch của khách hàng trên máy ATM hiện nay chỉ là để rút tiền (cũng như chỉ biết dùng máy vi-tính để chơi trò chơi điện-tử, hay để « chat »)! Thậm chí có người không dùng thẻ này để trả hàng hóa tại quầy có đặt máy « quẹt thẻ » (máy POS giá khoảng 800-900 đô, so với 20.000-30.000 đô cho 1 máy ATM), mà lại đi rút tiền mặt từ máy ATM đề trả! Thêm vào đó, các doanh- nghiệp cũng có phong trào thông qua thẻ ngân-hàng để chi trả lương, tiển thưởng, làm cho số lượng thẻ phát hành bởi các ngân-hàng đã nhanh chóng tăng thêm lên, và một số « đại-gia » đến rút hàng chục triệu đồng ờ máy ATM, vì cho rằng như vậy mới là « hiện-đại hóa » chăng? Đấy chỉ thêm một thí-dụ về đầu-tư theo phong trào chỉ đưa đến lãng phí, mà chưa tránh được tụt hậu.
Vậy làm sao ngừng được tụt hậu trước ngưỡng cửa của Tổ-chức thương-mại Thế-giới, và « đi tắt, đón đầu » ngay sau khi vào được trong tổ-chức này ? Nhất là trong lĩnh-vực dịch-vụ (=50,4% nền kinh tế của TP.HCM) mà UBND muốn đạt tăng-trưởng 12,5% mỗi năm cho giai đọan 2006-2010, thay vì 9,8% trong giai-đọan 2000-2005.
Nhân dịp Hội-thảo Trí-thức vào tháng 8/2005 tại Hà Nội, ông Tạ-Nguyên-Ngọc, Vụ-truởng Quan –hệ KT, KH và CN của UB về NVNONN đã phát-biểu trong báo Tuổi trẻ là : « Có rất ít chuyên-gia VK đầu đàn về nước, và hầu như không có trường-hợp nào được công-nhận là đã thật sự làm CHUYỂN BIẾN rõ rệt, hoặc để lại DẤU ẤN trong 1 NGÀNH, lãnh-vực, 1 cơ-sở nghiên-cứu quan-trọng nào »
Muốn như vậy thì trước hết VN phải tự đánh giá lợi thế so sánh của mình để xác định một vài ngành kinh-tế mũi nhọn trong kế-họach phát triển định kỳ, như Thái-lan đang hướng tới công-nghiệp sản-xuất xe hơi, và Singapore đã nhắm vào (ngay từ thời lập nước) kế-họach phát-triển các trung-tâm ngân-hàng. Đây cũng là quan-điểm cho Việt-nam của ông Miura Yuji của Viện Nghiên-cứu Tổng-hợp Nhật-bản.
Thật vậy, Singapore đã áp-dụng ngay từ đầu một hệ-thống thuế rất thấp trong ngành ngân-hàng, cùng với chính sách tài-chính rất tự-do lưu-thông cho các ngoại-tệ và đô-la Singapore (mà giá-trị hối-đoái chỉ theo cung/cầu của thị-trường) theo đúng mô hình của Thụy-sĩ, nhằm mục-đích «quyến rũ» các ngân-hàng nước ngoài, và nhiều công-ty tài-chính quốc-tế đến Singapore hoạt-động, ngõ hầu cho người nước này được nhanh chóng đào-tạo «thực-tế» (mà du-học sinh khó có đuợc, hay cần nhiều thời-gian hơn là «đi tắt,đón đầu » kiểu này, mà ngay tại chỗ làm việc ở nước mình) để tận dụng công-nghệ, và trình-độ quản-trị tiên tiến nhất thời-đại.
Kết-quả thấy rõ là từ một nước nhỏ (diện-tích 660 cây số vuông) như Singapore, mà khi mới được tự trị năm 1960, thì chỉ như một «vũng nước ao tù », và nghèo nàn, lạc-hậu như 1 đảo-quốc không tài-nguyên, còn phài nhập khẩu cả nước ngọt, từ Malaysia, cho hơn 4 triệu dân (bằng dân số TP.HCM), đã vươn lên từ nước kém phát-triển thành một trong những nước phát-triển « hàng đầu trên Thế-giới » (sách « From the Third World to the First » của Th-T.Lý Quang-Diệu), chính là nhờ kế-họach phát-triển kinh-tế mũi nhọn trong những ngành dầu khí, máy cơ-khí, máy tính, sàn-phẩm cao-su (thủa mới lập quốc), và gần đây trong lãnh-vực tài-chính, ngân-hàng, máy vi-tính, công-nghệ thông-tin, và sinh-học.

Theo ông Lý-quang-Diệu thì « với sức mạnh sẵn có trong những lĩnh-vực kinh-tế mũi nhọn này, Singapore sẽ trở thành một xã-hội phát-triển hoàn-toàn, với sự hiện-hữu của những công-ty đa quốc-gia, và Singapore cũng sẽ là một trung-tâm công-nghiệp đa dạng, nhờ các hoạt-động dựa vào trí-thức ». Cách đây gần 20 năm, ông L-Q-Diệu có thố-lộ cho tôi biết (vào dịp găp ông tại Thụy-sĩ) rằng ông có tư-vấn cho nhà lãnh-đạo VN là VN nên theo mô hình phát-triển kinh-tế của Malaysia (hơn là mô hình của Singapore), vì nước này cũng giàu tài-nguyên, và có nhiều dân số cũng như VN.
Thực vậy, năm 1997 Malaysia là nước duy nhất đã không cần tới trợ giúp cùa Ngân-hàng Thế-giới (WB) và Quỹ tiền tệ Quốc-tế (IMF) để nhanh chóng thoát khỏi cuộc khủng-hoảng kinh-tế và tài-chính cùa các nước Đông Nam Á, nhờ ở :
1) Chính-sách tài-chính và tiền tệ khôn ngoan của chính-phủ nước này do Thủ-tướng Mahathir Mohamah chủ trì, thí-dụ như biện-pháp tạm thời bãi bỏ tự-do hối đoái đồng tiền Ringhi, tái lập kiểm-soát hối-đoái với tất cả ngoại-tệ của các nước khác.
2) Đặc-khu Ngân-hàng và Tài-chính tại tỉnh LUBUAN đã được thành-lập từ 1/10/1990 theo luật « Lubuan International Offshore Financial Centre Act »
Phạm-vi bài này không đủ chỗ để trình bày về sự hữu-hiệu để phát-triển lãnh vực ngân-hàng và tài-chánh bằng những « Đặc-khu Quốc-Tế Offshores » của các nước, thí-dụ như :

1) Anh-quốc có những « đặc-khu QT offshores» trên các đảo biển Manche (ở giữa Pháp và Anh) của họ, như đảo Mans, Guersey, Jersey. 2) Nước Pháp có « đặc-khu QT» ở vương-quốc Monaco. 3) Thụy-sĩ có «đặc-khu QT» ở vương-quốc Liechtenstein. 4) Thời xưa Mỹ cũng có « đặc-khu QT» ở Panama. 5) Và dĩ-nhiên Singapore cũng có thể-chế giống như một đặc-khu, nên Lubuan (ở gần, và cũng trên 1 bán đảo) muốn khác biệt là 1 « Đặc-khu offshore Hồi-giáo về ngân-hàng và Tài-chính ».
Đặc-khu Ngân-hàng và Tài-chính của VN sẽ có nhiều lợi điểm so với Singapore (vì vậy nước này muốn làm trung-tâm ngân-hàng và tài-chính cho cả VN !) và Lubuan, vì VN ở trên thềm lục-địa Á-châu, và ở ngay trung-tâm Đông Nam Á.
Thể-chế tổng-quát của«đặc-khu QT Offshores ngân-hàng và tài-chính» :
1) Ngân-khoản (Deposit account) được mở tự-do bằng những loại tiền quan-trọng nhất thế-giới, và tiền sở tại. Tiền lời của ngân-khoản KHÔNG bị đánh thuế
2) Tín-dụng (Credit Falilities) cũng được vay bằng đủ loại tiền của thế-giới.
3) Tất cả các dịch-vu ngân-hàng và tài-chính tiên-tiến nhất thế-giới, với phí-tổn thấp hơn là ở ngoài phạm-vi của đặc-khu
4) Hối-đoái hoàn-toàn tự-do cho tiền sở tại và tất cả các loại tiền quan-trọng trên thế-giới.

Kết-quả là hiện nay Đặc-khu Ngân-hàng và tài-chánh Lubuan (diện-tích 99 cây số vuông) của Malaysia có 54 ngân-hàng (đa-số của nước ngoài), 98 Cty Bảo-hiểm quốc-tế, 17 Quỹ đầu-tư quốc-tế, 22 Cty « leasing » quốc-tế, và 3.085 công-ty quốc-tế đăng-ký tại đây.


1) Điều-kiện mở một «Đặc-khu QT Ngân-hàng và Tài-chánh» vùng TP.HCM

Điều-kiện đầu tiên là Đồng tiền lưu-thông trong 1 đặc-khu phải được hoàn-toàn tự-do « hối-đoái », nghĩa là đựợc chuyển, đổi không bị giới hạn ra tiền các nước khác. Đây CHƯA phài là trường-hợp của ĐỒNG tiền Việt-nam phải giải-quyết ra sao vấn-đề quan-trọng này ?
Khi bàn về tương-lai một đồng tiền chung (như Euro của Âu-châu) cho các nước thuộc khối ASEAN, thì thấy còn rất nhiều việc phải làm trước là phải đạt được trình-độ phát-triển kinh-tế tương đối đồng đều, giải-quyết vấn-đề thâm hụt cán cân thương-mại, và tình-trạng lạm-phát, cũng như các khúc-mắc tài-chính khác.
Như vậy mô hình một đồng tiền chung cho Asean cũng còn lâu mới thực hiện được.

Nhưng còn 1 mô hình khác là 2 hay nhiều nước Asean có thể ký kết dùng các đồng tiền nội bộ cùa nhau như là đồng tiền CHUNG có giá trị tương-đương. Mô hình này thiết thực hơn, mà có thể áp-dung ngay với một số nước Asean để thuận-lợi trao đổi thương-mại, và tạo động-lực tăng trường xuất, nhập-khẩu qua các nước thứ ba khác.
Hiện nay Brunei (gần Lubuan) và Singapore là 2 nước đầu tiên (có đồng tiền gần giá-trị tương-đương, và trình-độ phát-triển khá ngang bằng nhau) đã áp-dụng khá hiệu-quả mô hình này trong việc thanh-toán giao dịch và trao đổi hàng hóa xuất nhập khẩu.
Ngoài ra Việt-nam và Malaysia cũng đang bắt đầu đưa vào áp-dụng việc thanh-toán bằng đồng nội tệ của nhau trong giao-dịch thương-mại. Mà đồng tiền Ringhi của Malaysia được tự-do « hối đoái » không giới hạn.

Như vậy làm sao VN điều-đình với Malaysia để sử dụng được đồng tiền RM tự-do « hối đoái » ở trong, và từ « đặc-khu NH và TC » của TP.HCM ra nước ngoài khác?
2) Địa-điểm mở «Đặc-khu QT Ngân-Hàng và Tài-chánh » ở TP.HCM.
Như đã thấy là phần nhiều các nước trên thế-giới đều mở những đặc- khu trên « địa đầu đất nước » (như Lubuan, Monaco), hay trên đảo (lý tường là Phú-quốc, Côn đảo, nhưng tiếc không phụ thuộc TP.HCM) để áp-dụng thể-chế đăc-biệt (về thuế má thật thấp, hối-đoái tự-do, v.v...) Vậy trong vùng TP.HCM có « đảo »gì không?
Hình như vùng Nam TP.HCM có vùng Cần Giờ (gồm 2 đảo ?) mới được môt đoàn kiểm-tra khen là « quản-lý đất đai tốt nhất nước » mà thời xưa cũng chỉ là một « vũng nước ao tù» như Singapore, nhưng lớn hơn Lubuan (diện-tích chỉ có 99 cây số vuông), mà lại ở vùng Nam TP.HCM có khu đô-thị mới gồm nhiều tổ-chức quốc-tế (BV.Pháp Việt, trường QT,v.v...), và nhiều dân-số Việt-kiều và các nước ngoài là những người biết sử dụng những dịch-vụ ngân-hàng và tài-chánh tiên tiến nhất.
VN đã có nhiều khu « kinh-tế mở » như Chu Lai, Dung Quất, Văn Phong, nhưng vẫn thiếu một « Đặc-khu ngân-hàng và tài-chánh », còn Trung-quốc có hơn 1000 khu KT mở, đặc khu chế-xuất (giống như Tân-thuận), khu phát-triển KT công-nghệ (cũng như OVS Club có đề-án thành lập ở vùng nam TP.HCM), hay các khu mang tên khác nhau, nhưng có cùng bản chất.
Về lợi ích của một « Đặc-khu Quốc-tế ngân-hàng và tài-chính », thì chỉ cần xem địa-vị hàng đầu của Singapore trên nền kinh-tế Thế-giới.
Dự Án “Trường Đào Tạo Công Nghệ Cao Sài Gòn”
(Saigon Advanced Institute of Technology)
Cao Hữu Trí và Nguyễn Thiện Tống
Tóm tắt: SAIT LLC, trường đào tạo công nghệ cao ở Mỹ với trụ sở tại Silicon Valley, có dự án “Trường Đào Tạo Công Nghệ Cao Sài Gòn” (SAIT) trong Khu Công Nghệ Cao Tp Hồ Chí Minh (Saigon Hi-Tech Park) với mong muốn thành lập một trường đào tạo trình độ kỹ thuật viên và sau đại học về các lĩnh vực công nghệ cao nhằm cung cấp các khóa đào tạo bổ sung cho các kỹ sư và kỹ thuật viên đã tốt nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao. Trường đào tạo công nghệ cao này cũng tiến hành các hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm công nghệ cao cũng như các dịch vụ hỗ trợ đào tạo theo yêu cầu của các công ty công nghệ cao trên thế giới, đặc biệt là các công ty trong Khu Công Nghệ Cao Tp Hồ Chí Minh.
Sứ mệnh của SAIT là cung cấp hoạt động dịch vụ đào tạo chất lượng cao, bổ sung cho hệ thống giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có sức cạnh tranh tại Việt Nam cho nền công nghiệp cao toàn cầu. Với việc đưa các chương trình đào tạo tốt nhất về các công nghệ mới nhất, SAIT sẽ đào tạo và phát triển nhân lực trong nước để đáp ứng các nhu cầu nhân sự kỹ thuật đầy thách thức khắp Việt Nam.
SAIT sẽ là một mô hình tiên tíến nhằm hướng tới xây dựng một nguồn nhân lực cao cấp đầy đủ kỹ năng đáp ứng cho việc phát triển ngành công nghệ cao tại Việt Nam. Bên cạnh đó SAIT sẽ tạo những cơ hội đầy thử thách và hấp dẫn nhằm khuyến khích những chuyên gia Việt Nam đã theo học ở nước ngoài trở về quê hương dạy học và nghiên cứu phát triển và làm việc để đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
1. GIỚI THIỆU VỀ TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÔNG NGHỆ CAO SÀI GÒN
1.1. Nhu cầu đào tạo bổ sung về công nghệ cao cho kỹ sư mới ra trường
Những năm gần đây, khu vực kinh doanh chuyển dịch sản xuất những ngành công nghiệp cao tiếp tục phát triển nhanh ở Ấn Độ và Trung Quốc. Tuy nhiên sự tăng trưởng về kinh tế nào đều để lại một số vướng mắc. Giá nhân công ngày càng tăng ở các quốc gia trên đã mở đường cho các quốc gia khác tham gia vào tiến trình phát triển nền kinh tế công nghệ cao toàn cầu này.
Việt Nam đang đầu tư rất lớn vào các lĩnh vực đất đai, cao ốc và cơ sở hạ tầng nhằm thu hút các công ty nước ngoài, không những vậy Việt Nam còn tạo thêm các điều kiện mới. Trên khắp Châu Á, các công ty nước ngoài đang đấu tranh để bảo vệ bản quyền và bằng sáng chế của họ. Các công ty nước ngoài không thể giải quyết một số khó khăn trong hoạt động kinh doanh, đã thiết lập các trung tâm công nghệ cho chính họ. Một số công ty nước ngoài đang dần ổn định tại các vùng kinh tế có những quy định và luật rõ ràng, có thị phần kinh doanh, có những giá trị tương xứng và có ổn định chính trị
Việt Nam đã thấy rõ tiềm năng phát triển từ chính ngành công nghiệp cao của đất nước. Quy mô ban đầu tuy nhỏ theo những tiêu chuẩn quốc tế, nhưng chính sự phát triển của nó sẽ thúc đẩy sự quan tâm từ nước ngoài vào Việt Nam tăng cao. Để đáp ứng nhu cầu nhân lực trong các công ty trong nước cũng như nước ngoài, Việt Nam đã cho ra trường hàng năm một lượng khá lớn kỹ sư mới. Tuy nhiên cũng như hầu hết các kỹ sư mới tốt nghiệp mà không có kinh nghiệm, họ thường bị đánh giá có chất lượng chưa đạt yêu cầu của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp kỹ thuật cao, do đó họ cần được đào tạo thêm để đủ khả năng làm việc trong thế giới của các tập đoàn đa quốc gia.
Chính những lý do đó, Trường Đào Tạo Công Nghệ Cao Sài Gòn (SAIT), một đơn vị của SAIT LLC, là một công ty công nghệ ở Mỹ với trụ sở tại Silicon Valley, cung cấp các khóa đào tạo ở lĩnh vực công nghệ cao và các dịch vụ hợp tác với các công ty khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là các công ty trong Khu Công Nghệ Cao Tp Hồ Chí Minh. Với khả năng giảng dạy tốt nhất về những ngành công nghệ cao hiện đại nhất, SAIT sẽ đạo tạo và phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu của những công việc kỹ thuật cao cấp ớ khắp Việt Nam.
1.2. Mục tiêu và chiến lược hoạt động của “Trường Đào Tạo Công Nghệ Cao Sài Gòn”
Mục tiêu của SAIT là hoàn thành những nhiệm vụ sau:
  • Cung cấp dịch vụ đào tạo chất lượng cao nhằm bổ sung những khiếm khuyết của hệ thống đào tạo đại học để xây dựng một nguồn nhân lực của Việt Nam có đủ khả năng cạnh tranh phục vụ các ngành công nghệ cao trên toàn cầu.
  • Tạo một môi trường học hỏi tốt trong việc đào tạo công nghệ cao cho các học viên trong những dịch vụ gia công theo yêu cầu của khách hàng bằng cách phối hợp sự uyên thâm trong công việc của các chuyên gia trên thế giới với năng lực kỹ thuật của các khu công nghệ cao và các trường đại học ở Việt Nam.
  • Chiến lược trung tâm về giảng dạy của SAIT là truyền tải những yêu cầu về nguồn nhân lực của các ngành công nghiệp toàn cầu vào trong các chương trình giảng dạy và hi vọng rằng các chương trình này sẽ dần dần được giảng dạy tại các trường đại học và các cơ sở đào tạo khác trên toàn quốc với mục đích phát triển môt nguồn nhân lực chuyên nghiệp mang đẳng cấp quốc tế
SAIT sẽ cung cấp các chương trình đào tạo cần thiết cho các kỹ sư mới ra trường để họ bắt đầu những sự nghiệp thử thách trong công việc công nghệ cao và để sau này họ tiếp thu các kỹ năng cần thiết để thăng tiến trên con đường sự nghiệp của họ.
Với khả năng giảng dạy tốt nhất về những ngành công nghệ cao hiện đại nhất, Trường sẽ đạo tạo và phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu của những công việc kỹ thuật cao cấp ớ khắp Việt Nam. Trong những năm tới, SAIT sẽ cung cấp dịch vụ đào tạo trong những lĩnh vực sau:
  • Đào tạo kỹ thuật công nghệ cao: Đào tạo trong thiết kế vi mạch IC, thiết kế hệ thống nhúng, và phần cứng/ phần mềm cho hệ thống viễn thông. Ngoài ra, SAIT còn cung cấp các khóa học cho các ngành kỹ thuật chế biến, kỹ thuật NANO, kỹ thuật y sinh và các ngành khác theo yêu cầu của khách hành.
  • Đào tạo theo yêu cầu doanh nghiệp: Huấn luyện các kỹ thuật viên và kỹ sư trong các ngành chuyên biệt để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp sản xuất: tự động hóa, thiết kế robot, điều khiển, sản xuất bán dẫn, kỹ thuật năng lượng
  • Đào tạo quản lý: Đào tạo quản lý tổng hợp, quản lý dự án, quản lý quy trình, và các tập quán kinh doanh liên văn hóa.
  • Đào tạo phần mềm ứng dụng: Đào tạo về chính phủ điện tử và thương mại điện tử và phát triển phần mềm công nghệ.
  • Đào tạo ngoại ngữ: Đào tạo nói và viết tiếng Anh (English) trong lĩnh vực chuyên môn với phương pháp đào tạo đặt căn bàn trên việc dùng phòng thực tập ngoại ngữ được trang bị hệ thống máy tính và các chương trình tự học (Computer based training)
Trong những năm đầu, SAIT xin phép để hoạt động như một trường đào tạo nghề đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao và cấp chứng chỉ cho từng khóa học, sau một thời gian hoạt động, khi hội đủ những điều kiện cần thiết, SAIT sẽ xin chuyển thành trường đào tạo sau đại học
“Trường Đào Tạo Công Nghệ Cao Sài Gòn” sẽ là một mô hình tiên tíến nhằm hướng tới xây dựng một nguồn nhân lực cao cấp đầy đủ kỹ năng đáp ứng cho việc phát triển ngành công nghệ cao tại Việt Nam. Bên cạnh đó Trường sẽ tạo những cơ hội đầy thử thách và hấp dẫn nhằm khuyến khích những chuyên gia Việt Nam đã theo học ở nước ngoài trở về quê hương dạy học và nghiên cứu phát triển và làm việc để đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
2. MÔ HÌNH SAIT VỚI LỢI THẾ CẠNH TRANH
2.1. Mô hình Trường Đào Tạo Công Nghệ Cao Sài Gòn
Đào tạo nhân lực đóng một vai trò quan trọng cho sự phát triển của Khu Công Nghệ Cao Tp Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung. Các công ty công nghệ cao khi lựa chọn các điểm đầu tư thường hướng về những khu vực có một số lượng lớn các kỹ sư và các kỹ thuật viên mà có thể huấn luyện thêm để đáp ứng nhu cầu của họ. Một trường đào tạo công nghệ cao sẽ giúp hỗ trợ cho nền kinh tế Việt Nam bằng việc đóng góp vào sự phát triển công nghệ cao ở các công ty trong nước và nước ngoài. Càng nhiều các tập đoàn công nghệ cao vào đầu tư cũng có nghĩa càng nhiều công ăn việc làm được tạo ra, lương trả cao hơn, và nhiều nguồn thu hơn cho các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ trong nước.
Các kỹ sư mới tốt nghiệp ở Việt Nam, cũng như ở Mỹ, chưa có đầy đủ những kỹ năng cần thiết để làm việc tại các tập đoàn lớn. Tuy họ có những kiến thức lý thuyết và kỹ năng phân tích cần thiết để làm việc, họ lại thiếu kiến thức thực hành và kỹ năng làm việc cụ thể. Các kỹ sư mới tốt nghiệp phải thu thập dần các kỹ năng làm việc cụ thể này bằng cách vừa làm vừa học trong công việc hay thông qua các khóa đào tạo, mà phần lớn là do kết hợp cả hai.
Chương trình đào tạo của SAIT sẽ bao quát hết những gì không được dạy ở các trường đai học trong nước. SAIT sẽ hợp tác với các đại học trong nước để các lớp học do SAIT thực hiện sẽ bổ sung chứ không trùng lắp với những gì các trường đại học đã giảng dạy. SAIT cung cấp các chương trình đào tạo hoàn chỉnh hay từng khóa học riêng. Các chương trình đạo tạo được thiết kế để học viên chọn lựa các khóa học và có thế kết thúc một chương trình đào tạo hoàn chỉnh trong vòng từ 1 đến 2 năm. Các kỹ sư mới ra trường sẽ tham gia các khóa chuyên biệt ngắn hạn và được tổ chức tập trung trong vòng từ 1 đến 2 tuần. Trong các khóa ngắn hạn này, học viên sẽ học các kỹ năng làm việc cụ thể thông qua bài giảng và bài thực hành, thông thường là những vấn đề được mô phỏng từ thực tế. Sau khi hoàn tất một chương trình đào tạo hoàn chỉnh hay một khóa học, các kỹ sư đang đi làm có thể áp dụng những kỹ năng mới học vào ngay công việc của mình. Còn các kỹ sư chưa kiếm được việc làm, SAIT sẽ đào tạo thêm kỹ năng thức hành cho họ thông qua những dự án thực sự của các công ty trong và ngoài nước. Chứng chỉ do SAIT cấp sẽ được các trường đại học ở Hoa Kỳ công nhận.
Các học viên sẽ được đào tào thực hành ngay tại phòng nghiên cứu thiết kế kỹ thuật và các khu vực xây dựng theo mẫu thực tế ở trong khuôn viên của SAIT- một trung tâm thiết kế được tách biệt với các lớp học. Trung tâm này sẽ có khu vực làm việc để thiết kế IC, có vật tư cung ứng và thiết bị kiểm tra cho việc tạo ra và kiểm tra các sản phẩm mẫu, có hệ thống thông tin liên lạc toàn cầu hiện đại, hệ thống bảo mật, phòng hội nghị và các thiết bị đặc trưng khác thường thấy ở các trung tâm thiết kế của các công ty lớn.
2.2. Tầm nhìn và sứ mạng của SAIT
Sứ mạnh của SAIT là cung cấp hoạt động dịch vụ đào tạo chất lượng cao, bổ sung cho hệ thống giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có sức cạnh tranh tại Việt Nam cho nền công nghiệp cao toàn cầu. Với việc đưa các chương trình đào tạo tốt nhất về các công nghệ mới nhất, Trường Đào Tạo Công Nghệ Cao Sài Gòn sẽ đào tạo và phát triển nhân lực trong nước để đáp ứng các nhu cầu nhân sự kỹ thuật đầy thách thức khắp Việt Nam
Các khách hàng của SAIT, nhân lực cả cho trong nước và các công ty khu vực, đòi hỏi SAIT phải theo sát những tiến bộ công nghệ hiện nay cũng như những nhu cầu không ngừng thay đổi của khách hàng. Để vượt cao hơn sự mong đợi của khách hàng, SAIT phải chủ động và thực lòng lắng nghe khách hàng và đáp ứng lại một cách nhanh chóng và hiệu quả các nhu cầu của khách hàng.
Chiến lược kinh doanh và tiếp thị của SAIT là tiến nhanh vào các lĩnh vực thị trường xác định mà có tiềm năng tăng trưởng cực tốt. Một điều dễ thấy là các lĩnh vực thị trường đó hiện nay chưa được tích cực khai thác bằng cạnh tranh.
Hoạt động đẩy mạnh tiếp thị sẽ bao gồm việc liên lạc trực tiếp đến những người có trách nhiệm ở các đại học công lập cũng như tư thục, các cơ quan nhà nước, các công ty trong SHTP và công ty xuất xứ từ Mỹ, việc in ấn và phân phối các brochure tới các khách hành tiềm năng và việc gửi thư trực tiếp đến các cá nhân có uy tín đang lên…thông qua những quan hệ cao cấp hiện có giữa các nhân sự chủ chốt của các đơn vị đó và hội đồng quản trị của SAIT.
2.3. Phạm vi hoạt động
SAIT sẽ cung cấp 3 loại hình dịch vụ:
  • Đào tạo: SAIT sẽ cung cấp tất cả các dịch vụ đào tạo bao gồm đào tạo chứng chỉ, đào tạo kỹ thuật, đào tạo ngôn ngữ chuyên dụng, và các dịch vụ đào tạo theo yêu cầu của khách hàng.
  • Trung Tâm Thiết Kế: Trung Tâm Thiết Kế sẽ ký hơp đồng với các doanh nghiệp trong và ngoài nước cho các dịch vụ nghiên cứu và phát triển sản phẩm.
  • Cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu: mục đích của dịch vụ này là hỗ trợ các doanh nghiệp về các dịch vụ cung ứng và điều hành (như tuyển dụng, phù hợp với các tiêu chuẩn của chính phủ, dịch vụ tiện ích, nghiên cứu và kế họach chiến lược…)
Đây là dự kiến cho đến cuối năm 2012. Khi trung tâm thiết kế bắt đầu họat động và đem lại tên tuổi cho SAIT, chúng tôi kỳ vọng rằng SAIT sẽ đem lại những hợp đồng từ nước ngoài đến Việt Nam. Khi trung tâm này càng trở nên nổi tiếng, nhu cầu đào tạo về kỹ thuật và các phòng thực hành ngôn ngữ sẽ cao lên. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng khóa học cũng như nhu cầu gia tăng kiến thức của học viên. Thêm vào đó, điều này cũng ảnh hưởng đến việc gia tăng số lượng thành viên của phòng thực hành ngọai ngữ và nhu cầu về dịch vụ cung ứng và điều hành.
Trong 5 năm tới, SAIT sẽ cung cấp dịch vụ đào tạo ở các lĩnh vực sau:
  • Đào tạo kỹ thuật công nghệ cao: Đào tạo trong thiết kế vi mạch IC, thiết kế hệ thống nhúng và phần cứng/ phần mềm cho thông tin liên lạc. Ngoài ra, SAIT còn cung cấp các khóa học cho các ngành kỹ thuật chế biến, kỹ thuật nano, kỹ thuật y sinh và các ngành khác theo yêu cầu của khách hành.
  • Đào tạo theo yêu cầu doanh nghiệp: Huấn luyện các kỹ thuật viên và kỹ sư trong các ngành chuyên biệt để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp: tự động hóa, thiết kế robot, điều khiển, sản xuất bán dẫn, kỹ thuật năng lượng.
  • Đào tạo chứng chỉ: Đào tạo và cấp chứng chỉ của Sun, Cisco, Microsorft, Oracle hoặc Adobe.
  • Đào tạo quản lý: Đào tạo quản lý tổng hợp, quản lý dự án, quản lý quy trình, và các tập quán kinh doanh liên văn hóa.
  • Đào tạo phần mềm ứng dụng: Đào tạo về chính phủ điện tử và thương mại điện tử
  • Đào tạo ngoại ngữ: Đào tạo nói và viết tiếng Anh (English) trong lĩnh vực chuyên môn với phương pháp đào tạo đặt căn bàn trên việc dùng phòng thực tập ngoại ngữ được trang bị hệ thống máy tính và các chương trình tự học (Computer based training).
SAIT sẽ phát triển hệ thống truyền thông điện tử trải rộng bằng công nghệ e-learning hiện đại nhất.
SAIT cũng sẽ đưa ra một số khóa đào tạo từ xa.Học viên sẽ kết nối với hệ thống học tập điện tử nhờ các kỹ thuật audio, video hoặc máy tính, chẳng hạn như VPN, LAN/WAN, băng tiếng và hình, truyền hình vệ tinh, truyền hình trực tiếp hai chiều, điện thoại Internet, hội thảo kết nối từ xa hay CDROM.
Việc giảng dạy sẽ được thực hiện đồng bộ hoặc không đồng bộ. Đối với trường hợp việc giảng dạy được thực hiện đồng bộ, tất cả học viên sẽ cùng kết nối cùng lúc và liên lạc trực tiếp với giảng viên và với nhau. Đối với trường hợp việc giảng dạy được thực hiện không đồng bộ, giảng viên và học viên không liên lạc trực tiếp với nhau cùng một lúc trong thời gian thực mà thông qua kết nối tùy chọn theo thời gian thích hợp của mỗi học viên để có bài giảng, để tham gia mục hỏi và đáp, nhóm thảo luận trực tiếp trên mạng và qua email.
2.4. Hợp tác với các đại học ở Mỹ
Để thiết lập tình hữu nghị và để phát triển trao đổi học thuật giữa các đại học, trường Northwestern Polytechnic University (NPU) và Trường Đào Tạo Công Nghệ Cao Sàigòn (SAIT) đã có nhiều buổi họp để bàn luận việc hợp tác. Đại diện của hai bên đã trao đổi thông tin và bày tỏ mong muốn hợp tác. Do đó NPU và SAIT đồng ý những điều sau:
a. NPU và SAIT trở thành hai trường kết nghĩa sau khi ký thỏa thuận.
b. NPU và SAIT sẽ hợp tác với nhau về những lĩnh vực học thuật nổi bật và mạnh. Căn cứ trên nhu cầu phát triển giáo dục và kinh tế, việc hợp tác sẽ tập trung vào:
  • Xác định việc thiết kế và công nhận chương trình đào tạo, phát triển các môn học
  • Trao đổi giảng viên, tham gia đồng giảng viên, và đào tạo giảng viên ở Mỹ
  • Các chương trình hợp tác R&D liên quan đến đào tạo
  • Các chương trình đào tạo kỹ năng truyền thông liên văn hóa và tiếng Anh
  • Các chương trình cùng cấp bằng bậc đại học và sau đại học
  • Quản lý đào tạo qua Internet
  • Các chương trình đào tạo cho cấp quản lý
  • Hợp tác thông tin giáo dục và nguồn lực giảng dạy
  • Đồng tổ chức các hội nghị/hội thảo học thuật quốc tế
  • Công nhận và chuyển đổi tín chỉ của hai bên thông qua trao đổi
c. Các dự án cụ thể sẽ được xây dựng cho các chương trình cụ thể hướng vào các lĩnh vực nói trên.
Ghi chú: NPU là một đại học được ACICS kiểm định chất lượng cho bằng Thạc sĩ ngành Điện điện tử và máy tính (EECE), Thạc sĩ Quản trị kinh doanh (MBA), Tiến sĩ ngành Điện điện tử và máy tính, Tiến sĩ Quản trị kinh doanh (DBA).
2.5. Hợp tác với các đại học ở Việt Nam
Đại diện của SAIT đã có những buổi tiếp xúc sơ bộ với các trường đại học ở Tp Hồ Chí Minh và các bên đều bày tỏ mong muốn hợp tác với nhau.
  • Khoa Công nghệ Thông tin Trường Đại học Bách Khoa TpHCM có khả năng hợp tác phòng thực tập thí nghiệm với SAIT và có thể sử dụng một phần chương trình đào tạo của SAIT để bổ sung cho chương trình đào tạo công nghệ thông tin của Khoa Công nghệ Thông tin.
  • Khoa Quản lý Công nghiệp Trường Đại học Bách Khoa cũng có thể giới thiệu giảng viên của Khoa tham gia giảng dạy các môn quản lý ở SAIT.
  • Trường Đại học Công nghệ Thông tin thuộc Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh sẵn sàng hợp tác với SAIT vì cơ sở Trường Đại học Công nghệ Thông tin rất gần với Khu Công nghệ Cao Tp Hồ Chí Minh.
  • Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright cũng có triển vọng họp tác với SAIT trong chương trình đào tạo về chính phủ điện tử.
Các thỏa thuận hợp tác sẽ được các bên bàn bạc và ký kết sau khi SAIT được cấp phép hoạt động.
2.6. Những lợi thế cạnh tranh
Chìa khóa cho sự thành công ở SAIT là các yếu tố khác biệt và giá trị sau mà nhờ đó SAIT nổi bật so với các đối thủ:
  • Sự ủng hộ chính phủ
  • Là một đơn vị đào tạo trong Khu Công Nghệ Cao Tp Hồ Chí Minh
  • Tiếp cận các phương tiện thiết bị và cơ sở hạ tầng các trường đại học hợp tác
  • Trường đào tạo và dịch vụ một cửa
  • Chương trình đào tạo theo yêu cầu khách hàng với hỗ trợ các dịch vụ về nhân sự
  • Một đầu mối tiếp xúc cho việc quản lý dự án
  • Giảm thiểu rủi ro
  • Có danh sách nhà cung ứng dịch vụ được công nhận
  • Sự tuân thủ việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
  • Bảo đảm hoàn thành dự án
  • Tiếp cận toàn cầu và cung ứng tại địa phương
  • Đa ngôn ngữ và đa văn hóa
  • Ngôn ngữ đào tạo: Việt, Anh, Nhật, Trung
3. GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
3.1. Đặc điểm về đào tạo
Với mong muốn trở thành một đơn vị dẫn đầu về giáo dục sau đại học, SAIT cung cấp các cơ hội cho học viên nâng cao các kỹ năng chuyên môn của mình. SAIT cam kết chắc chắn thực hiện các mục tiêu nghề nghiệp cho học viên của mình bằng cách cung cấp các công cụ chính yếu cần thiết để nâng cao năng suất, kinh nghiệm và chiến lược chuyên môn. Các chương trình đào tạo của SAIT hướng vào nhu cầu nghề nghiệp, tiện lợi, đáp ứng đúng nhu cầu, định hướng toàn cầu và danh giá.
  • Chứng chỉ được công nhận bởi Hội Đồng Giáo Dục Bang California
SAIT sẽ kết nghĩa với Northwestern Polytechnic University (NPU) tại thung lũng Silicon để cùng cấp bằng cấp và chứng chỉ, do đó bằng cấp và chứng chỉ của SAIT có giá trị được Hội Đồng Giáo Dục Bang California công nhận.
  • Ban giảng huấn có chất lượng
Đa số giảng viên từ Mỹ đều đạt học vị tiến sĩ và có nhiều kinh nghiệm về các công nghê ở thung lũng Silicon.
  • Hướng vào nhu cầu phát triển nghề nghiệp
SAIT cung cấp môt chương trình đào tạo sau đại học chất lượng cao, kết hơp những kỹ thuật hiện đai vào trong lời giải của công việc thực tiễn. Chương trình của SAIT là một sư kết hợp hài hòa giữa các khái niệm lý thuyềt và các ứng dụng thực tiễn cho các công nghệ phần cứng và phần mềm tốc độ cao. SAIT tập trung đào tạo theo yêu cầu của các tập đoàn công nghê cao quốc tế.
  • Thời gian học thuận tiện
Một số khóa học được tổ chức vào buổi tối và vào các ngày cuối tuần thuận tiện cho việc sắp xếp thời gian của học viên đang đi làm.
  • Đáp ứng nhu cầu
SAIT đánh giá nhu cầu thực tiễn của nơi làm việc một cách thường xuyên và đáp ứng đúng những nhu cầu đó bằng cách thường xuyên cập nhật và nâng cao chương trình đào tạo.
  • Định hướng toàn cầu
Ban giảng huấn của SAIT rất đa dạng về văn hóa và điều này giúp cho học viên có cơ hội làm quen với nhiều mội trường làm việc trên thế giới. Tất cả các khóa học đều được giảng dạy bằng tiếng Anh nhẳm cung cấp một lực lượng lao động có trình độ cao cho thị trường quốc tế.
  • Uy tín
Chương trình đào tạo của SAIT là loại kỹ thuật trình độ sau đại học được tổ chức lần đầu ở Việt Nam mà được Hội đồng Giáo dục Bang California công nhận. Việc này cũng cung cấp một mô hình đào tạo sau đại học và phát triển chuyên môn cho ngành thiết kế và phát triển phần cứng/phần mềm.
3.2. Chương trình đào tạo của SAIT
Chương trình đào tạo gồm hai loại trình độ sau đại học và trình độ kỹ thuật viên. Chương trình đào tạo sau đại học được tổ chức theo các khóa học dài hạn tiếp nhau để cấp chứng chỉ cho học viên đã tốt nghiệp đại học hoặc được tổ chức theo các chuyên đề ngắn hạn cho lãnh đạo các công ty. Chương trình kỹ thuật viên được tổ chức theo các khóa học dài hạn tiếp nhau để cấp chứng chỉ kỹ thuật viên cho học viên có trình độ tú tài hay tương đương. Các chương trình đặc biệt theo chủ đề cũng được tổ chức cho cấp quản lý và điều hành của các doanh nghiệp phần mềm, hay các nhà quản lý và các nhà chuyên môn khác cần phải được đào tạo nhanh về công nghệ thông tin để hiểu biết tác động của công nghệ thông tin đối với công ty hay tổ chức của mình.
3.2.1. Chương trình đào tạo cấp chứng chỉ: Mỗi chứng chỉ gồm có 3 môn học.
    • Chứng chỉ về hệ thống thông tin (Information Systems)
    • Chứng chỉ về liên lạc không dây (Wireless Communication)
    • Chứng chỉ về thiết kế và phát triển phần mềm (Software design and development)
    • Chứng chỉ về hệ thống nhúng (Embedded Systems)
    • Chứng chỉ về thiết kế vi mạch (IC Design)
    • Chứng chỉ về IC Packaging
    • Chứng chỉ về HDL và FPGA System Design
    • Chứng chỉ về an ninh máy tính (Computer Security)
    • Chứng chỉ về giao tiếp / thực hiện / quản lý dự án (Communication/Process/Project Management) (‘Kỹ năng mềm’)
    • Chứng chỉ về chuyển dịch gia công phần mềm (Software Outsourcing)
3.2.2. Chương trình chuyên đề và hội thảo
SAIT tổ chức những buổi chuyên đề về phát triển chuyên môn và một loạt bài giảng của chương trình đào tạo Thạc sĩ cho cấp lãnh đạo công ty công nghệ thông tin.
Các chuyên đề về phương pháp phát triển phần cứng và phần mềm cùng các lĩnh vực liên quan với thời gian từ một đến bốn ngày. Các chuyên đề này trình bày các công nghệ và phương pháp mà các chuyên gia phầm mềm sử dụng. Chứng chỉ hoàn tất khóa học sẽ được cấp cho các học viên tham dự đầy đủ các chuyên đề liên quan.
Mỗi học kỳ có một loạt các chủ đề. Các chủ đề tiêu biểu như dưới đây.
    • Kiểm tra máy tính
    • Cơ sở bảo mật máy tính
    • Sắp xếp cơ sở dữ liệu
    • Tài chính cho ngành công nghệ thông tin
    • Quy tắc quản lý dự án phần mềm quan trọng
    • Quy tắc đảm bảo chất lượng phần mềm quan trọng
    • Lập trình Java
    • Lập trình Java – Nâng cao
    • Cơ sở hệ điều hành Linux
    • Hệ điều hành Linux nâng cao
    • Phân tích và thiết kế định hướng đối tượng
    • Lập trình Perl V
    • Thiết kế và sử dụng cơ sở dữ liệu quan hệ
    • Giới thiệu hệ thống điều hành Unix
    • Hệ thống điều hành Unix nâng cao
    • Thiết kế và phát triển web
    • Giới thiệu XML
3.2.3. Chương trình kỹ thuật viên
SAIT đào tạo kỹ thuật viên với chương trình dạy nghề trong các lĩnh vực điện điện tử, điện cơ, môi trường, cơ khí, công nghiệp.
  • Kỹ thuật viên điện và điện tử phụ giúp việc thiết kế, phát triển sản phẩm, thử nghiệm và sản xuất các thiết bị điện và điện tử như thiết bị thông tin liên lạc, ra-đa, thiết bị dẫn đường và máy tính. Họ có thể làm công việc thử nghiệm và đánh giá sản phẩm, sử dụng các phương tiện đo đạc và chẩn đoán để điều chỉnh, thử nghiệm và sửa chữa thiết bị sản phẩm.
  • Kỹ thuật viên cơ điện phối hợp các nguyên tắc căn bản của kỹ thuật cơ khí với điện và điện tử để phụ giúp việc thiết kế, phát triển sản phẩm, thử nghiệm và sản xuất các hệ thống cơ khí được điều khiển bằng điện điện tử hay máy tính. Công việc của họ thường giống như của cả kỹ thuật viên cơ khí và kỹ thuật viên điện điện tử.
  • Kỹ thuật viên môi trường phụ giúp các kỹ sư và khoa học gia môi trường trong việc phát triển các phương pháp và phương tiện thiết bị sử dụng để hạn chế, kiểm soát và xử lý những tác hại môi trường. Họ kiểm tra và bảo dưỡng các thiết bị liên quan đến ô nhiễm không khí và tái chế. Họ cũng kiểm tra hệ thống xử lý nước và nước thải để bảo đãm các điều kiện kiểm soát ô nhiễm.
  • Kỹ thuật viên công nghiệp phụ giúp kỹ sư trong việc nghiên cứu làm sao để sử dụng hiệu quả nhân lực, vật liệu, máy móc thiết bị, kho bãi, xưởng sửa chữa và văn phòng. Họ chuẩn bị sơ đồ bố trí máy móc thiết bị, lưu đồ các công đoạn sản xuất, thu thập thông tin thống kê, và phân tích chi phí sản xuất.
  • Kỹ thuật viên Cơ khí phụ giúp kỹ sư trong việc thiết kế, phát triển sản phẩm, thử nghiệm và sản xuất các máy móc sản xuất công nghiệp, sản phảm tiêu dùng, và những thiết bị khác. Họ có thể phụ giúp việc thử nghiệm sản phẩm – chẳng hạn như lắp đặt thiết bị cho việc thử xe hơi bị va chạm mạnh. Họ có thể phát thảo và bố trí thiết bị, thu thập và phân tích dữ liệu, tính toán và báo cáo kết quả tìm được. Khi lập kế hoạch sản xuất, kỹ thuật viên cơ khí chuẩn bị sơ đồ bố trí máy móc của dây chuyền sản xuất và bản vẽ của các chi tiết sản phẩm sẽ chế tạo. Họ ước tính chi phí sản xuất, đời hữu dụng của máy móc thiết bị và mặt bằng nhà máy. Họ kiểm tra và thử nghiệm các máy móc thiết bị và phụ giúp kỹ sư giải quyết vấn đề của sản xuất.
3.2.4. Chương trình đặc biệt
  1. Chương trình đào tạo những người gia công phần mềm
Chương trình này là một loạt các môn học có mục đích đào tạo những người điều hành cao cấp của công ty, các nhà quản lý doanh nghiệp phần mềm, các kỹ sư cần được chuẩn bị để phụ trách thực hiện các dự án gia công phần mềm và đủ tiêu chuẩn cho giai đoạn đào tạo tại nơi làm việc của chương trình.
a.1. Đối với nhà quản lý dự án phần mềm
Chương trình đào tạo gồm các môn sau:
    • Quản lý thiết kế phần mềm
    • Làm thế nào chuẩn bị gia công phần mềm
    • Quy tắc thiết kế phần mềm
    • Giao tiếp kỹ thuật trong tiếng Anh
    • Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
a.2. Đối với kỹ sư phần mềm
Chương trình đào tạo gồm các môn sau:
    • Quy tắc thiết kế phần mềm
    • Đảm bảo chất lượng phần mềm
    • Giao tiếp kỹ thuật trong tiếng Anh
    • Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
    • Thiết kế phần mềm doanh nghiệp
a.3. Đối với cá nhân điều hành trung và cao cấp tại doanh nghiệp
Chương trình đào tạo gồm các môn sau:
    • Làm thế nào chuẩn bị gia công phần mềm
    • Lập kế hoạch chiến lược để gia công công nghệ thông tin
    • Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
a.4. Các môn học sẽ phát triển
    • Bảo mật công nghệ thông tin
    • Quản lý cấu hình phần mềm
    • Cải thiện qui trình phần mềm, CMMI, CMM
  1. Chương trình về công nghệ thông tin cho cấp quản lý (Ex IT)
Các nhà quản lý và các nhà chuyên môn khác đều thấy cần phải được đào tạo nhanh để trở nên quen thuộc trên diện rộng với môi trường công nghệ thông tin và hiểu biết tác động của công nghệ thông tin đối với công ty hay tổ chức của mình. Khóa Ex IT được thiết kế cho bất kỳ cá nhân nào mong muốn hiểu rõ các chủ đề mũi nhọn và then chốt, các tập quán hiện nay và các vấn đề trong công nghệ thông tin cần thiết cho các ngành chuyên môn khác và cần thiết để tạo lợi thế cạnh tranh của một công ty hay tổ chức.
Các chủ đề hiện tại bao gồm:
    • Môi trường dữ liệu và hệ thống hỗ trợ ra quyết định
    • Thông tin sinh học
    • Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu
    • Nhận dạng lời và website tương tác giọng
    • Phát triển phần mềm dựa trên mẫu
    • Thiết kế và xây dựng các ứng dụng dựa trên web
    • An ninh máy tính
    • Khai thác dữ liệu
    • Quản lý dự án phần mềm
    • Truyền tin di động
    • Hệ thống lập kế hoạch nguồn lực doanh nghiệp
    • Ứng dụng các yếu tố con người cho việc thiết kế giao diện người sử dụng
    • Ngày trong đời sống của một hacker
    • Các vấn đề pháp lý trong công nghệ
Chứng chỉ hoàn tất khóa học sẽ được cấp cho học viên tham dự ít nhất 10-14 buổi học. Khóa học Ex IT sẽ được tổ chức tại SAIT ở trong Khu Công Nghệ Cao Tp. HCM.
Ngoài ra, các khóa học Ex IT cũng được tổ chức giảng dạy theo yêu cầu của các công ty tại cơ sở của họ.
3.3. Cung cấp dịch vụ theo yêu cầu
Một họat động khác của SAIT là cung cấp dịch vụ theo yêu cầu cho các doanh nghiệp trong khu vực SHTP và những công ty hoạt động công nghệ cao ở các nơi khác. Các dịch vụ này tập trung vào các lĩnh vực sau:
  • Nguồn nhân lực và đào tạo theo yêu cầu
  • Tư vấn và kiểm định các tiêu chuẩn công nghiệp
  • Dịch vụ gia công phần mềm và phát triển sản phẩm
  • Quản lý doanh nghiệp và quản lý chương trình.
  • Bảo mật và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
3.4. Phòng thí nghiệm, thực tập
Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo của SAIT bao gồm các phòng thực tập kỹ thuật, một phòng đào tạo ngoại ngữ, các phòng sản xuất sản phẩm mẫu đầu và phát triển sản phẩm, phòng đào tạo thực hành theo yêu cầu đặc biệt của doanh nghiệp và một trung tân thiết kế.
3.4.1. Phòng thực hành thiêt kế và phát triển công nghệ
  • Phòng thực tập kỹ thuật bao gồm các khu vực thiết kế vi mạch mà mỗi khu vực có một máy tính lớn nối mạng và phần mềm thiết kế vi mạch.
  • Phòng đào tạo ngoại ngữ bao gồm các khu vực đào tạo chuyên sử dụng máy tính CBT để các học viên thực hành tiếng Anh, mỗi khu vực sẽ được trang bị như là một không gian đóng kín riêng biệt với hệ thống máy tính được kết nối mạng và micro, loa, camera.
  • Phòng sản xuất sản phẩm mẫu đầu và phát triển sản phẩm sẽ có các dãy bàn, các dụng cụ thiết bị kiểm tra thử nghiệm, máy tính và vật liệu để sản xuất mẫu để học viên có thể thực hiện như các dự án thật.
  • Phòng đào tạo thực hành theo yêu cầu đặc biệt của doanh nghiệp sẽ có các thiết bị và khu vực làm việc để tạo môi trường sản xuất và thử nghiệm sản phẩm theo đúng như ở một nhà máy sản xuất thực sự.
  • Phòng thực hành kiểm định sẽ có các thiết bị chuyên dùng cho đào tạo kiểm định, Các thiết bị này bao gồm máy chủ phục vụ cho kiểm định của Microsoft và SUN, và hệ thống thiết bị mạng phục vụ cho kiểm định của CISCO.
Trong giai đoạn I của SAIT, tòa nhà thứ nhất sẽ có những phòng thí nghiệm sau:
  1. Phòng thực hành truyền thông và ngoại ngữ
  2. Phòng thực hành thiết kế IC
  3. Phòng thực hành FPGA và hệ thống nhúng.
3.4.2. Trung Tâm Thiết Kế
Tùy vào thời điểm hoàn thành của từng khóa học, các học viên sẽ có cơ hội áp dụng những kỹ năng đã học vào các dự án thực tiễn tại trung tâm thiết kế. Những học viên chưa có việc làm sẽ được làm việc tại Trung tâm Thiết kế như một cách huấn luyện thực tiễn. Tại đây, học viên sẽ được thực hành trên những dự án thực tiễn của các doanh nghiệp. Chứng chỉ sẽ được cấp và công nhận bởi các trường đại học tại Mỹ.
Học viên sẽ được thực tập tại phòng thực hành thiết kế kỹ thuật và khu vực sản xuất sản phẩm mẫu được sắp xếp ở một khu vực đặc biệt trong khuôn viên của SAIT – một trung tâm thiết kế tách biệt với các lớp học. Trung tâm thiết kế kỹ thuật sẽ có các khu vực dành cho thiết kế IC và phát triển hệ thống nhúng, các thiết bị cung ứng và kiểm định phục vụ cho việc chế tạo và kiểm tra các sản phẩm mẫu, hệ thống liên lạc toàn cầu hiện đại, các phòng hội thảo, và các thứ khác thường thấy ở một trung tâm thiết kế của doanh nghiệp.
Trung tâm thiết kế sẽ hoạt động như một phòng kinh doanh để ký một số hơp đồng chọn lọc với các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Các công việc hợp đồng này sẽ ba gồm từ nghiên cứu đến phát triển sản phẩm cho đến toàn bộ các công đoạn của việc gia công phần mềm quốc tế.
3.5. Tài liệu học tập và thư viện
3.5.1. Tài liệu học tập
SAIT sẽ sử dụng các tài liệu riêng biệt cho từng lớp. SAIT có được quyền chính thức phân phối tài liệu cho các lớp học, tài liệu này đã được sự dụng cho hơn 50 khóa đào tạo tại các trường đại học tại Hoa Kỳ. Mỗi khóa học là 500 giờ bao gồm thiết kế, kiểm tra và thực hành.
SAIT sẽ mua bản quyền các phần mềm và giấy phép sử dụng cho các nghiên cứu phát triển vi mạch, máy tính, phòng thực tập, phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu và phần mềm quản lý máy trung tâm cũng như tất cà các phần mềm ứng dụng chuyên biệt sử dụng cho bộ phận kế toán và phòng hành chính.
3.5.2. Thư viện SAIT
Tòa nhà I của SAIT sẽ xây dựng một khu vực thư viện với mục tiêu:
    • Cung cấp tài liệu chuyên môn và các bài nghiên cứu cho khách hàng và học viên.
    • Cung cấp tài liệu giảng dạy
    • Cung cấp môi trường học tập thuận tiện, yên tĩnh cho học viên.
    • Phục vụ học viên một cách chu đáo, lịch sự và chính xác.
    • Là trung tâm thông tin của trường.
  • Sách: tất cả các sách cho việc nghiên cứu tại chỗ của SAIT có thể dễ dàng tìm thấy bằng cách dùng hệ thống GLAS thông qua các từ khóa, tựa đề, tên tác giả và số IBNS.
  • Tạp chí: SAIT đăng ký dài hạn rộng rãi nhiều nguồn tạp chí.
3.5.3. Thư viện kết nối Internet
  • SAIT đăng ký liên thông với một số thư Trường Đào Tạo điện tử quốc tế để học viên có thể sử dụng các tài khỏan của mình để truy cập thông tin.
3.5.4. Phòng hội thảo qua mạng
  • SAIT xây dựng một phòng họp điện tử dành cho việc hôi thảo và đào tạo qua mạng.
  1. ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
SAIT chỉ sử dụng những giảng viên có trình độ. SAIT có một mạng lưới các giảng viên nhiều kinh nghiệm ở Mỹ và ở những nước khác. Tuy nhiên, SAIT luôn ủng hộ mạnh mẽ việc sử dụng các giảng viên trong nước. Việt Nam có nhiều giảng viên giỏi được đào tạo bài bản tại Mỹ, có thể giảng dạy các khóa học tại SAIT. Vào năm đầu tiên, trong khi SAIT sử dụng 75% giảng viên từ Hoa Kỳ, SAIT bắt đầu đào tạo các giảng viên trong nước. Đến năm thứ tư, các giảng viên trong nước sẽ chiếm đa số lực lượng giảng dạy của SAIT.
SAIT có đội ngũ các giáo sư, các nhà khoa học và giảng viên ở các trường ĐH của Mỹ và làm việc ỡ thung lũng Silicon chuẩn bị giảng dạy và xây dựng những chuẩn mực giáo dục đào tạo theo yêu cầu. Đội ngũ các giáo sư SAIT có kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy tại các trường ĐH của Mỹ, chung nhau đóng góp các hiểu biết và kinh nghiệm quản lý từ những lĩnh vực cá nhân cho sáng kiến hợp tác.
Với sự quản lý rõ ràng, khả năng kỹ thuật mạnh, và đội ngũ quản lý đầy kinh nghiệm, chúng tôi cam kết phát triển và duy trì một cách hiệu quả, cũng như thực hiện giáo dục chất lượng cao cho những học viên tốt nghiệp tại đây thành những người có chuyên môn giỏi trong lĩnh vực công nghệ cao toàn cầu.
4.1. Danh sách giảng viên
• Prof. Tri Caohuu, Ph.D. (Texas A&M University)
• Prof. Steven Sun Chiao, Ph.D. (Stanford University)
• Mr. Hien Cung, MBA (Georgia State University)
• Prof. Paul Hungman Kim, Ph. D. (University of Arizona)
• Mr. Gary Kuwano, MBA (Stanford University)
• Dr. Quach Nhon (Stanford University)
• Dr. An Nguyen, Ph.D. (University of California, Berkeley)
• Dr. Luan Nguyen, Ph.D., MBA (University of Texas)
• Mr. Hue Nguyen, MBA (McGill University, Canada)
• Dr. Tai Nguyen, Ph.D. (University of California, Berkeley)
• Prof. Henry Liem, Counselor at Law (University of California, Hasting)
• Dr. Tue Nguyen, Ph. D (MIT)
• Dr. Tu C. Nguyen, Ph.D. (Utrecht University, The Netherlands)
• Dr. Tien Nguyen, D. Eng. (University of Munich, Germany)
• Prof. Tong Nguyen, Ph.D. MPA (Harvard University)
• Mr. John Vien, MSEE (San Jose State University)
• Dr. Dinh Bon, Ph.D. (University of California, Davis)
4.2. Các nhân sự chủ chốt
  • Tiến sĩ Cao Hữu Trí– Người sáng lập và Tổng Giám đốc
  • Tiến Sĩ Nguyễn Thiện Tống - Giám đốc
  • Tiến Sĩ Quách Nhơn, Ph.D – Ủy viên Hội đồng Khoa học
  • Tiến sĩ. Nguyễn Tiến, Dr. Ing. – Ủy viên Hội đồng Khoa học
  • Tiến sĩ Sun Chiao, Ph.D., Ủy viên Hội đồng Khoa học
5. CƠ SỞ VẬT CHẤT
Giai Đoại I:
Tòa nhà I với diện tích xây dựng 5000m2 là một tòa nhà gồm 5 tầng sẽ được xây dựng trên diện tích đất 1000m2 ở Khu Công Nghệ Cao Tp Hồ Chí Minh. Dự kiến bắt đầu xây dựng khi SAIT được cấp phép và hoàn tất trong thời gian một năm.
Tòa nhà I bao gồm 24 lớp học, 1 hội trường, 2 phòng hội thào, 1 phòng họp, 2 phòng học trực tuyến, 2 phòng thực tập kỹ thuật, 1 phòng thực tập ngoại ngữ, 2 phòng thiết kế, 1 thư viện và một số văn phòng làm việc. Ngay trong thời gian xây dựng SAIT sẽ thuê địa điểm tại Tp. HCM để bắt đầu chương trình đào tạo của mình cho đến khi tòa nhà I xây dựng xong. Tòa nhà I đảm bảo công suất hoạt động của SAIT cho đến cuối năm 2009.
Giai Đoạn II (trong kế hoạch tương lai):
Việc xây dựng dự kiến bắt đầu vào đầu năm 2009 và hoàn tất vào năm 2011. Giai đoạn IIbao gồm một tòa nhà 5 tầng được xây dựng trên khu đất có diện tích 5,000m2, tổng diện tích xây dựng là 25,000 m2. Toà nhà II bao gồm các phòng học, các phòng thực tập kỹ thuật, phòng thực hành đào tạo đặc biệt, phòng thực thành kiểm định, và một trung tâm thiết kế.
6. KẾ HOẠCH TƯƠNG LAI
Trong giai đoạn II các phòng thí nghiệm tối tân sẽ được thực hiện:
  • The Business Practicum Lab (Oracle & SAP)
  • The Networking and Wireless Communication Practicum Lab
  • IC manufacturing Practicum Laboratory
Trong tương lai dựa trên yêu cầu của thi trường, SAIT dự kiến sẽ xin giấy phép xây dựng chương trình đào tạo thạc sĩ cho các ngành kỹ sư điện tử, kỹ sư vi tính và quản trị hành chánh.
Thạc sĩ trong ngành kỹ sư điện tử, kỹ sư vi tính:
[8 khóa + dự án + thành thạo ngôn ngữ]
  • Thạc sĩ về EECEchuyên ngành thiết kế IC
  • Thạc sĩ về EECEchuyên ngành chế tạo phần mềm
  • Thạc sĩ về EECEchuyên ngành hệ thống nhúng
  • Thạc sĩ về EECEchuyên ngành truyền thông không dây
  • Thạc sĩ về EECEchuyên ngành IT
MBA (Thạc sĩ hành chính quản trị)
[8 khóa + dự án + thành thạo ngôn ngữ]
  • Thạc sĩ hành chính quản trị chuyên ngành quản lý công nghệ thông tin
  • Thạc sĩ hành chính quản trị chuyên ngành tiếp thị và thương mại tòan cầu
  • Thạc sĩ hành chính quản trị chuyên ngành quản lý dự án.
7. BÀN LUẬN VÀ KẾT LUẬN
Mặc dù gần đây có nhiều trung tâm hoạt động về giáo dục đào tạo ra đời để đáp ứng nhu cầu mạnh mẽ của sự phát triển công nghệ tại Việt nam, chúng tôi tin tưởng rằng sự đầu tư về chất lượng và cơ sở vật chất sẽ giúp SAIT thành công vì những lợi thế cạnh tranh sau đây:
  • SAIT tập trung vào đào tạo công nghệ cao
  • Ngọai trừ RMIT, tất cả các trung tâm đều sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt là chính, những khóa học củaSAIT được sử dụng tiếng Anh để mang lại lợi thế cho học viên khi làm việc với các tổ chức nước ngoài.
  • Đối thủ cạnh tranh chính của SAIT là các trường đại học kỹ thuật, nhưng hầu hết các trường này đào tạo nhiều về lý thuyết và sử dụng tiếng Việt để đào tạo. Mặt khác các trường này không tập trung vào nhu cầu doanh nghiệp. SAIT sẽ có những chương trình đào tạo được thiết kế riêng để học viên có thể áp dụng ngay khi làm việc tại các đơn vị. SAIT không cạnh tranh mà cung cấp một chương trình đào tạo bổ sung như cầu nối giữa đại học và doanh nghiệp.
  • SAIT tập trung trên các chương trình giảng dạy được áp dụng tại Hoa Kỳ để giúp học viên có được bằng cấp tương đương với việc học tai Hoa Kỳ.
  • Thông qua việc có mặt tại SHTP, SAIT sẽ cung cấp những kết nối với các chuyên gia có chất lượng cao cho các công ty đang họat động tại SHTP. Khác với các đối thủ cạnh tranh, SAIT có Trung tấm Thiết kế. SAIT sẽ giúp cho học viên có thể kết hợp ngay lý thuyết vào thực tế.
  • SAIT đảm bảo chất lượng dịch vụ của mình thông qua các chương trình đào tạo cho khách hàng.
  • SAIT cũng sẽ tạo cơ hội cho học viên được đào tạo bên ngoài (tại Mỹ) chương trình nhân viên tiềm năng thông qua các yêu cầu của chương trình đào tạo.
  • Mục tiêu của SAIT: Quản lý quy trình chất lượng của kỹ sư và dự án, phát triển khách hàng và thị trường, quản lý quyền sở hữu trí tuệ, tạo ra những mô hình họat động đặc biệt và giá cả cạnh tranh.
Để kết luận, mục tiêu của SAIT có thể tóm tắt như sau:
  • Đào tạo chất lượng cao, bổ sung cho hệ thống giáo dục và đào tạo đại học Việt Nam, để phát triển nguồn nhân lực có sức cạnh tranh ở Việt Nam cho công nghiệp kỹ thuật cao toàn cầu.
  • Cung cấp đào tạo công nghệ cao có chất lượng và dịch vụ gia công phần mềm quốc tế cho khách hàng bằng cách tích hợp kinh nghiệm kinh doanh của các chuyên gia quốc tế với năng lực kỹ thuật của Khu Công nghệ cao Tp Hồ Chí Minh và các đại học ở Việt Nam.
  • Phục vụ chiến lược của một trung tâm có khả năng chuyển những yêu cầu công nghiệp toàn cầu về nhân lực vào trong chương trình đào tạo để góp phần vào việc cải tổ chương trình và chất lượng đào tạo đại học Việt Nam hầu phát triển một nguồn nhân lực lượng kỹ thuật cao có sức cạnh tranh trên thế giới.
Chúng tôi tin tưởng rằng Trường Đào Tạo Công Nghệ Cao Sài Gòn SAIT sẽ là một mô hình thành công hướng vào việc phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao. SAIT cũng đem lại điều kiện cho các chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài quay về giảng dạy và làm việc tại Việt Nam.


Đề án thành lập trung tâm công nghệ thiết kế và mô phỏng cao cấp CMMC
International Competent Centre of Product Lifecycle Management (PLM)
and Modeling of Continuum (MC) (CMMC)
GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng, Giám đốc Công ty Hưng Việt Technology, Việt Nam

Bài tham luận sẽ đền cập đến việc thành lập một vườn ươm cho ngành công nghệ tự mô phỏng, thiết kế và mô hình.
Tại các nước phát triển trong thời đại ngày nay những công nghệ cơ sở như công nghệ chế tạo máy, công nghệ chế tạo xe hơi, tàu thủy, máy bay, công nghệ xây dựng các cấu trúc phức tạp như nhà cao tầng, cầu giây văng, lò nguyên tử, để tăng trưởng nhanh và giá thành cạng tranh được trên thị trường, đều phải dựa trên công nghệ mô phỏng và thiết kế.
Đây chính là ảnh hưởng của cuộc cách mạng tin học, đặc biệt trong các ngành công nghệ cơ bản. Đây chính là cơ sở khoa học và kỷ thuật cần thiết cho các công nghệ tự động.
Trong lĩnh vực này Việt Nam có nhiều lợi thế: vốn đầu tư không nhiều, người Việt Nam thích ứng rất nhanh trước máy tính...

Trong khuôn khổ cọng tác Việt-Bỉ phát động từ năm 1990 cho đến nay, chúng tôi đã chủ trương đi tắc đón đầu, chuẩn bị nhân lực tại chỗ cho các công nghệ này. Hơn 300 thạc sỹ và hơn 12 tiến sỹ đã được đào tạo tại Việt Nam trong lĩnh vực này. Vừa rồi một labô mới, chuyên về mô phỏng và vận hành vật thể trong không gian 3 chiều đã được thành hình tại ĐH Bách Khoa với tài trợ trực tiếp của Công ty hàng đầu thế giới (30% thị phần) Dassault Systèmes, và những công ty khác như công ty thiết kế xe hơi Đức HLS, công ty tin học HP và hai công ty quốc tế tại Việt nam: NSV và Hưng Việt Technology:



Tuy nhiên đây chỉ là một cố gắng riêng rẽ.
Làm thế nào xây dựng một vườn ươm bề thế hơn, nằm trong nhịp điệu chung của khu công nghệ cao TP HCM?
Làm thế nào tụ tập lại nhân lực đã được đào tạo bài bản nhưng đang nằm rải rác khắp nơi?
Bài tham luận sẽ xác định kế hoạch, kêu gọi sự đóng góp cụ thể của VK có chuyên môn này và đang công tác tại nhiều trường ĐH hay công ty hàng đầu trên thế giới.

Phát biểu của PGS.TS.Phan Thanh Bình Giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM Kính thưa quí vị kiều bào, Nghị quyết 36/NQ-TW đã khẳng định “Kiều bào là một bộ phận không thể tách rời và là nguồn lực của dân tộc Việt Nam” điều đó cho thấy rõ quan điểm của Việt Nam, đánh giá rất cao về vai trò và vị trí đối với đất nước chúng ta. Theo thống kê, hiện nay có hơn 300.000 trí thức người Việt nam ở nước ngoài đã được đào tạo một cách bài bản ở những nước có nền giáo dục chất lượng cao, uy tín, có chuyên môn cao trong nghiên cứu khoa học và có kinh nghiệm làm việc ở các nước tiên tiến, một số trí thức nắm giữ vị trí quan trọng trong các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các công ty và các tổ chức quốc tế. Đây sẽ là nguồn lực tiềm năng đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước, giúp Việt Nam “đi tắt đón đầu”kỹ thuật, công nghệ mới, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, tạo dựng quan hệ hợp tác với các cơ sở kinh tế, khoa học ở các nước. Kính thưa quý vị, ĐHQG-HCM là một trong hai trường ĐHQG tại Việt Nam, 1 đặt tại Hà Nội & 1 đặt tại TpHCM. ĐHQG-HCM là một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học - công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến, làm nồng cốt cho hệ thống giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay, ĐHQG-HCM gồm 05 trường đại học thành viên, 01 Viện nghiên cứu, 01 Khoa trực thuộc và một số trung tâm nghiên cứu và dịch vụ: Trường Đại học Bách khoa, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội - Nhân văn, Đại học Quốc tế, Đại học Công nghệ Thông tin, Viện Môi trường - Tài nguyên, Khoa Kinh tế, Khu Công nghệ phần mềm, Thư viện Trung tâm, Trung tâm Đào tạo Quốc tế, Trung tâm Khảo thí và Đánh giá Chất lượng Đào tạo, Trung tâm Giáo dục Quốc phòng, Trung tâm Ngoại ngữ, …. Ngoài ra, Trường Phổ Thông Năng Khiếu thuộc ĐHQG-HCM chịu trách nhiệm đào tạo học sinh năng khiếu thuộc các ngành Toán, Tin học, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Văn học, Tiếng Anh Với 120 ngành đào tạo bậc đại học, 88 ngành đào tạo bậc thạc sỹ và 90 ngành đào tạo bậc tiến sỹ, hiện tại ĐHQG-HCM có hơn 48.000 sinh viên đại học chính quy, 5.560 học viên cao học và hơn 400 nghiên cứu sinh. Về đội ngũ, ĐHQG-HCM có tổng cộng 3.420 cán bộ - công chức bao gồm 2.085 cán bộ giảng dạy trong đó Giáo sư và phó giáo sư là 151 người Trong chiến lược phát triển của mình, ĐHQG-HCM luôn tập trung thực hiện việc xây dựng đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu đô thị đại học mới của ĐHQG-HCM. Bên cạnh đó, việc tìm kiếm và thiết lập các mối quan hệ với các đối tác nước ngoài, mà trong đó, kiều bào Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài luôn là những ưu tiên hàng đầu của chúng tôi. Dựa trên những cơ sở nêu trên, ĐHQG-HCM rất vinh dự được đón tiếp, làm việc và trao đổi ý kiến cũng như tìm hiểu nguyện vọng của quí vị nhằm tìm kiếm cơ hội hợp tác với quí vị trên các lĩnh vực: Giảng dạy, quản lý, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, kể cả đầu tư và những mối quan tâm khác dựa trên nguyên tắc cả hai bên cùng có lợi, hợp tác lâu dài, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Kính thưa Quý vị, qua chương trình gặp gỡ lần này, chúng tôi mong muốn được lắng nghe những ý kiến đóng góp, những trao đổi thẳng thắn về nguyện vọng cũng như yêu cầu của quí vị khi về nước làm việc nói chung và khi hợp tác với ĐHQG-HCM nói riêng để phát triển những hợp tác chủa chúng ta trong tương lai. Nhân dịp năm mới tôi xin thay mặt ĐHQG-HCM kính chúc sức khỏe toàn thể quý vị và gia đình,một năm mới an khang và thịnh vượng. Trân trọng kính chào.Phát biểu của Ông Phan Thám Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài Tp.HCM (Đề dẫn thảo luận về cơ chế, chính sách đối với chuyên gia, trí thức kiều bào) Nghị quyết 36 NQ/ BCT ngày 26 tháng 3 năm 2004 về công tác đối với Người VN ở nước ngoài đã đánh giá cộng đồng người VN ở nước ngoài “mặc dù sống xa tổ quốc, đồng bào luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, gắn bó với gia đình, quê hương”. Nghị quyết cũng khẳng định chủ trương công tác đối với người VN ở nước ngoài là “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai”. Sau khi Nghị quyết 36 NQ/BCT được ban hành, nhiều chính sách liên quan đến kiều bào đã thông thoáng hơn; ngày càng có đông đảo kiều bào về thăm thân nhân, thăm quê hương, đầu tư sản xuất, kinh doanh…Nhiều chuyên gia, trí thức kiều bào trực tiếp về làm việc hoặc có chương trình hợp tác cụ thể, có hiệu quả với các trường Đại học, cơ quan nghiên cứu, Khu Công nghệ Cao, các cơ cở kinh tế. Ở thành phố còn có CLB Khoa học và Kỹ thuật Việt Kiều thu hút sự quan tâm và tham gia tích cực của chuyên gia, trí thức kiều bào trong và ngoài nước. Tuy nhiên, cho đến nay sự đóng góp của kiều bào, đặc biệt là lực lượng trí thức, chuyên gia chưa tương xứng với tiềm năng vốn có, với kỳ vọng của đất nước và với mong muốn của chính kiều bào. Có nhiều nguyên nhân tác động làm hạn chế sự đóng góp của trí thức kiều bào: - Quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước chưa được quán triệt sâu, rộng đến từng ngành, từng địa phương, trên cơ sở đó có chương trình, kế hoạch triển khai, kiểm tra thực hiện. - Một số chính sách liên quan đến kiều bào như: chính sách thu hút chuyên gia trí thức kiều bào đóng góp xây dựng đất nước, chính sách nhà đất… chậm được xây dựng và triển khai thực hiện làm nản lòng nhiều người trông đợi. - Thông tin 2 chiều giữa kiều bào và trong nước chưa tốt, chưa kịp thời; chuyên gia, trí thức kiều bào đông, giỏi nhưng trường hợp nào phù hợp với nhu cầu trong nước; trong nước cần lực lượng chuyên gia trí thức tham gia công việc gì, ở đâu vẫn không rõ. - Một số trường hợp trí thức kiều bào đã về nước thì việc bố trí, sử dụng không phù hợp với khả năng, sở trường; ở đôi chỗ, cách nhìn, thái độ đối xử chưa tốt; điều kiện, môi trường làm việc còn khó khăn. Chưa có nhiều điển hình thành công. - Số đông trí thức chưa về nước có tâm trạng e dè, chờ đợi, chưa an tâm… Ngoài các nguyên nhân nêu trên, còn nguyên nhân, rào cản nào khác nữa không? Ví dụ như tổ chức làm công tác đối với kiều bào, trí thức kiều bào, các tổ chức của kiều bào, các tổ chức làm cầu nối giữa kiều bào và trong nước đã phù hợp chưa? Làm thế nào để nhanh chóng giải quyết các nguyên nhân, tháo gỡ các rào cản để củng cố niềm tin, động viên, thu hút mạnh mẽ sự đóng góp của kiều bào mà tập trung là lực lượng chuyên gia trí thức, nguồn lực quan trọng của cộng đồng người Việt nam ở nước ngoài và đáp ứng yêu cầu cấp thiết của đất nước trong thời hội nhập kinh tế quốc tế. Đó là yêu cầu nội dung chúng ta sẽ tập trung trong buổi hội thảo chiều nay. Mong rằng quí vị sẽ đóng góp ý kiến thẳng thắn, trách nhiệm và cụ thể để tham gia giải quyết một trong những vấn đề quan trọng nhất hiện nay của đất nước ta, là làm thế nào phát huy hiệu quả nguổn lực của chuyên gia, trí thức kiều bào phục vụ cho nhiệm vụ phát triển bền vững của đất nước. Xin cám ơn quí vị đại biểu.
Khu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh - Điểm tập trung hợp tác nguồn lực tri thức chuyên gia Việt kiều Nguyễn Đình Mai Trưởng Ban quản lý Khu công nghệ cao Ban quản lý Khu công nghệ cao Tp.HCM trân trọng chào đón sự hiện diện và tham gia nhiệt tình của các anh chị chuyên gia Việt kiều tại cuộc gặp gỡ, trao đổi trong Hội thảo “Phát huy nguồn lực trí thức Việt kiều đóng góp vào công cuộc phát triển Tp.HCM. Thí điểm áp dụng tại Khu công nghệ cao và Đại học Quốc gia Tp.HCM”. Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn những anh/chị Việt kiều không về dự Hội thảo lần này đã dành thời gian viết gửi về cho chúng tôi những ý kiến tâm huyết, những đề nghị chân tình vì sự nghiệp phát triển của đất nước. Trước khi gặp gỡ hôm nay, nhiều anh chị chuyên gia Việt Kiều có dịp đến xem tận mắt kết quả mà Khu công nghệ cao đạt được bước đầu, cả về thu hút đầu tư công nghệ cao và nổ lực hình thành phát triển năng lực khoa học – công nghệ, theo hướng tiếp cận thị trường. Những kết quả ấy có sự đóng góp của nhiều anh chị trí thức Việt Kiều từ ngay giai đoạn thai nghén, 1992 – 1995, trong xác định hướng đi phù hợp cho dự án, xác định môhình hoạt động và kết nối các đối tác chiến lược quan trọng vào giai đoạn khởi động khu công nghệ cao. Có thể kể tên vài anh chị: Huỳnh Hữu Nghiệp, Lương Bạch Vân, Đặng Lương Mô, Thân Trọng Phúc, Nguyễn Văn Đông, Nguyễn Trí Dũng, Quin Tran, Đào Trung Giang, Đoàn Hồng Hải,..vànhiều người khác. Có khi, một số anh chị Việt kiều về nước chỉ để góp ý, dặn dò nhóm nghiên cứu chiến lược những lời tâm huyết, hoặc tận tình giới thiệu các tập đoàn, công ty có công nghệ nguồn về đầu tư vào Khu công nghệ cao. Cho đến nay, Khu CNC đã thu hút được 30 dự án với tổng vốn hơn 1,5 tỷ USD. Trong đó, Intel là dự án tiêu biểu, và cùng với các dự án khác đang mở ra cơ hội phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, các chuỗi cung ứng công nghệ cao. Không gian khoa học (Science Park) là một dự án/ cấu phần quan trọng nhất của khu công nghệ cao, nhằm tạo lập một không gian tri thức hiện đại thế kỷ 21 cho thành phố Hồ Chí Minh, một môi trường tốt nhất cho R&D, Ươm tạo công nghệ và đào tạo nhân lực công nghệ cao. Sau một số thành công bứơc đầu về thu hút FDI sản xuất sản phẩm công nghệ cao (Intel, Nidec, Jabil, Sonion,..), Ban Quản lý Khu CNC tập trung ưu tiên mời gọi đầu tư các cơ sở R&D vào Khu Không gian khoa học này với những gói ưu đãi cao nhất. Tuy còn rất nhiều vấn đề phải tập trung ở những năm khởi nghiệp, Chính quyền thành phố cũng đã ủng hộ Khu CNC thành lập những đơn vị nghiên cứu-triển khai đầu tiên trong khu, các phòng thí nghiệm các lĩnh vực công nghệ cao, mới như: Vi mạch -Bán dẫn; Công nghệ nano; Cơ khí chính xác – Tự động hoá. Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ caođã được thành lập từ tháng 9/2006. Một số hoạt động liên kết đào tạo nhân lực công nghệ đã được bắt đầu từ năm 2006 với đơn vị Trung tâm đào tạo. Qua các hoạt động bước đầu về R&D, Đào tạo, Ươm tạo tuy có những kết quả khích lệ về một kết quả về công nghệ nano, pin nhiên liệu,..một số khóa đào tạo thử nghiệm kỹ năng cho nhân lực trẻ,..Nhưng Ban Quản lý Khu công nghệ cao đã nhận thấy một số hụt hẩng trước mắt: Thiếu nhân sự có kinh nghiệm để tổ chức điều hành một số hoạt động hoàn toàn mới, nhất là việc tiếp cận, liên kết với thị trường khoa học công nghệ quốc tế, chưa có cơ sở vật chất đầy đủ như trụ sở, dịch vụ hỗ trợ, kinh phí, vốn mồi, quỹ đầu tư mạo hiểm. Vấn đề liên kết giữa hoạt động giữa R&D, ươm tạo và công nghiệp vẫn chưa có nhân tố có kinh nghiệm để xây dựng các nền tảng phát triển lâu dài, nhân lực có tay nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp công nghệ cao. Đây là những thách thức cần tập trung vượt qua từ năm 2008 vàlà vấn đề Ban Quản lý khu công nghệ cao mong các anh chị trí thức Việt Kiều tích cực tập trung hợp tác với thành phố Hồ Chí Minh. Nhu cầu đã rõ, cơ hội hợp tác chung rất lớn, nhưng chúng ta theo lộ trình nào với điều kiện gì và làm gì ngay đầu năm 2008? Về phần Ban Quản lý Khu CNC xin trình bày và đề nghị các anh chị chuyên gia trí thức Việt Kiều xem xét các nhu cầu và cơ hội hợp tác: 1/ Trên cơ sở các kết quả 5 năm qua của dự án Khu công nghệ cao, tiếp tục nghiên cứu đề xuất bổ sung “Định hướng phát triển công nghệ cao - tầm nhìn đến năm 2020”, các suy nghĩ, kinh nghiệm về các ngành của lĩnh vực công nghệ cao nên tập trung đầu tư tại thành phố Hồ Chí Minh. Phương cách phát triển hiệu quả cao nhất. Ban Quản lý Khu CNC sẳn sàng hợp tác “đặt hàng” cho các tổ chức, nhóm nghiên cứu và cá nhân anh chị chuyên gia Việt Kiều về các nghiên cứu này. 2/ Các dự án đầu tư có thể đưa về Khu công nghệ cao thành phố về sản xuất công nghệ cao và sản xuất không nhà máy (fabless), thiết kế, thành lập R&D Labs, Vườm Ươm (Incubators), các dịch vụ hỗ trợ công nghệ cao, kể cả các dự án đầu tư xây dựng khu chuyên đề (dạng đầu tư Developer) như khu sinh học, khu công nghệ vật liệu, năng lượng mới. 3/ Hợp tác nghiên cứu R&D và thị trường hóa kết quả nghiên cứu, hợp tác qua các hợp đồng outscourcing từ nước ngoài. Khu CNC đang khởi động các R&D Labs với một số trang thiết bị hiện đại cơ bản, phòng sạch (Clean Rooms), đội ngũ nghiên cứu viên trẻ, năng động, được tuyển chọn từ các trường trong/ngoài nước và một số kinh phí hỗ trợ ban đầu cho phát triển các ngành lĩnh vực mới từ chính quyền. Sự hợp tác này trên cơ sở cùng chia sẽ lợi ích và kể cả rủi ro trong R&D theo nhiều mô hình khác nhau mà đôi bên thỏa thuận tiến hành ngắn hạn hay dài hạn. Trong các mô hình, phương cách hợp tác có thể anh chị chuyên gia trực tiếp điều hành tại chỗ hoặc vẫn ở nước ngoài hợp tác theo từng mảng công việc, hoặc theo dạng đặt hàng Outsourcing. Đại diện Trung tâm R&D Khu công nghệ cao sẽ trình bày thêm chi tiết để các anh chị cho ý kiến. 4/ Tham gia ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp công nghệ cao với 500m2 đầu tiên đã có các hạ tầng, tiện ích dùng chung cho các công ty ở giai đoạn khởi nghiệp. 5/ Khu công nghệ cao sẽ giành một diện tích thỏa đáng, với giá cả cạnh tranh nếu có được các dự án do các doanh nhân Việt kiều liên kết đầu tư để tạo ra tiện ích thu hút các dự án phát triển phần mềm, thiết kế của các doanh nghiệp Việt kiều khác. 6/ Khu công nghệ cao sẳn sàng liên kết đào tạo hoặc chào đón các dự án đầu tư đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao cho khu và khu vực. 7/ Chúng tôi ý thức được tầm quan trọng của Quỹ đầu tư mạo hiểm trong quá trình triển khai các hoạt động ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp công nghệ cao. Vì vậy, Khu công nghệ cao được chính phủ giao nhiệm vụ thực hiện các ưu đãi khuyến khích hình thành và hoạt động của Quỹ. Đây cũng sẽ là cơ hội đầu tư mà anh chị em tìm thấy ở đây. 8/ Xúc tiến hình thành và vận hành mạng liên kết hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ và nghiên cứu triển khai công nghệ cao. 9/ Khu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh mời các anh chị chuyên gia Việt Kiều thường xuyên tham gia trao đổi ý kiến về các vấn đề hợp tác trong một Forum “Phát triển công nghệ cao tại thành phố Hồ Chí Minh” (trên mạng Internet, địạ chỉ Forum sẽ được thông báo bằng email đến các anh chị sau Hội thảo này). Lần nữa xin chân thành cảm ơn sự đóng góp nhiệt thành của anh chị chuyên gia Việt kiều. Xin ghi nhận các đóng góp vừa qua và xin đón nhận các đóng góp sắp tới.


No user avatar
HoangTung
Latest page update: made by HoangTung , Jan 6 2008, 10:45 PM EST (about this update About This Update HoangTung UBVIETKIEU - HoangTung

3102 words added
1 word deleted

view changes

- complete history)
Keyword tags: None
More Info: links to this page
There are no threads for this page.  Be the first to start a new thread.