| Photos: | |
|
| | | |
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
| BAN QUẢN LÝ KHU CÔNG NGHỆ CAO |
|
| ********** |
|
| CHƯƠNG TRÌNH “GẶP GỠ CHUYÊN GIA VIỆT KIỀU” |
| “Phát huy nguồn lực trí thức Việt kiều đóng góp vào công cuộc phát triển Tp.HCM. Thí điểm áp dụng tại Khu công nghệ cao và Đại học Quốc gia Tp.HCM” |
DANH SÁCH CHUYÊN GIA VIỆT KIỀU ĐĂNG KÝ
| STT | HỌ & TÊN | NƯỚC | NỘI DUNG | GHI CHÚ |
| CÁC CHUYÊN GIA VIỆT KIỀU ĐĂNG KÝ THAM DỰ |
-
| Ông Nguyễn Đoàn Hùng | Nhật Bản |
|
|
-
| Ông Huỳnh Quan Danh | Úc |
|
|
-
| Ông Nguyễn Văn Sơn | Mỹ |
|
|
-
| Ông Đào Trung Giang | Mỹ |
|
|
-
| Bà Nguyễn Ngọc Duyên | Úc |
|
|
-
| Ông Hoàng Huy Hoàng | Mỹ |
|
|
-
| Ông Nguyễn Chiến |
|
|
|
-
| Ông Hồ Hoàng Mật | Mỹ |
|
|
-
| Ông Lê Văn Dĩnh | Pháp |
|
|
-
| Bà Lê Bích |
|
|
|
-
| Bà Hà Ngọc Mai | VN/Pháp |
|
|
-
| Ông Đặng Văn Kỳ | Pháp |
|
|
-
| Nguyễn Phi |
|
|
|
-
| Ông Nguyễn Hải | Canada |
|
|
Anh văn để hội nhập với thế giới
Nhân ngày 20/11, tôi đã nhận được nhiều thư của học trò cũ từ Mỹ và cũng có dịp gặp một số sinh viên đến nhà thăm và chúc sức khoẻ. Không ít các bạn trẻ đã tâm sự với tôi về những khó khăn trong vấn đề sử dụng tiếng Anh ngoài đời cũng như trong trường học. Có những bạn cho biết đã qua nhiều lần viết lại luận văn Thạc Sĩ mà vẫn bị thầy nhuộm đỏ. Có người lại bảo: “nói thì cũng tạm nhưng vẫn thấy không ổn; nói cho thoát ý khó quá Thầy ơi!”
Đấy không phải là lần đầu tiên tôi nghe học trò của mình tâm sự về các khó khăn mà họ gặp phải khi dùng Anh ngữ. Đã qua nhiều năm tham gia thỉnh giảng trong những chương trình đại học liên kết quốc tế ở quê nhà và lắng nghe bức xúc của xã hội, tôi nhận thấy những vấn đề sau đây:
I. Văn phạm rất cần thiết
Không có một ngôn ngữ nào không cần sự hiểu thấu về văn phạm để hành văn cho chuẩn và đem lại niềm vui cho đọc giả. Sau khi đã hiểu thấu văn phạm rồi thì tác giả lại phá rào, chơi chữ để có thể đưa ý sâu hơn, để tả những bức tranh ngoạn mục hơn. Người bản xứ nào cũng đánh giá sự thông minh và tài năng của con người không chỉ qua cách dùng từ, hành văn mà còn về cả văn phạm. Ở các xứ nơi tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ củng vậy! Nhìn họ chế nhạo nguyên thủ quốc gia của họ thì ta cũng biết.
II. Học Anh văn ở Mỹ
1. Viết và đọc Tôi còn nhớ rất nhiều quá trình dùng và học Anh ngữ của các con tôi từ lúc sinh ra và lớn lên ở xứ bạn. Bắt đầu từ “Sữa”, “Cơm”, đến “Cho con xin ..” và rồi “Con đau bụng” vv… cho đến khi chúng học xong đại học, không bao giờ chúng phải trải qua một lớp dạy chuyên văn phạm nào cả! Nhưng chúng viết rất nhiều. Từ lớp vỡ lòng qua những lớp cao hơn sau đó, cứ mỗi năm, bài viết đòi hỏi nhiều hơn - bóng bẩy hơn, lưu loát hơn. Bắt đầu mùa học nào cũng thế, sốt ruột khi thấy bài viết của con mình có nhiều vết mực của thầy cô hơn số điểm; nhưng dần dần lại cảm thấy hạnh phúc khi những vết mực ấy càng ngày càng ít đi và thay vào đó là một con tem, hay một lời phê bình tốt.
Qua những nét mực sửa sai, phê bình của thầy cô, các con tôi HỌC Anh văn. Nói cho đúng chúng học cách nói nghe cho xuôi tai và cách viết cho thoát ý. Văn phạm nhập tâm khi chúng phải trau chuốt một lời nói, một câu văn sao cho gọn và xúc tích từ lớp vỡ lòng cho đến hết suốt cuộc đời. Để đạt được sự gọn gàng và xúc tích ấy, chúng học rất nhiều từ và sự khác biệt giữa những từ (thế này thì cùng nghĩa mà thế kia thì khác nghĩa), thêm vào đó ý của câu văn tùy theo vị trí của các từ. Tôi không chỉ nói đây thế nào là sự khác biệt giữa câu xác định, câu phủ định, câu hỏi, vv… mà còn là sự khác biệt về ý tưởng. Để học được như vậy, học sinh phải đọc rất nhiều. Ngoài những quyển sách nằm trong danh sách của trường, chúng được khuyến khích đọc thêm sách mà chúng tự lựa chọn. Đọc rồi thì phân tích, viết báo cáo. Lúc còn nhỏ thì theo cách bố cục của thầy cô; khi đã vững cách trình bày thì được quyền hành văn thông thoáng hơn nhưng phải có lý. Khi trò phá rào, nếu thầy cô thấy ý tưởng ấy hay hoặc lạ, họ lại lấy đó làm đề tài cho cả lớp phê bình (chúng ta cả thầy và trò cùng học!)
Vào trung học, học sinh sẽ được luyện cách viết phản xạ (impromptu writing). Thầy cô ra đề bất kỳ lúc nào, học sinh có từ 15-30 phút để trình bày ý tưởng và sự hiểu biết của mình. Nhà giáo sẽ nhìn vào đấy để theo dõi và tu bổ những gì mà học sinh còn khiếm khuyết. Ở trung học phổ thông (THPT), học sinh còn được dạy cách viết văn theo nhiều thể loại: tiểu thuyết, báo chí, cũng như báo cáo khoa học. Quan trọng trong tất cả các lớp dạy Anh văn chuẩn bị cho đại học mà riêng tôi thấy rất cần thiết và tôi xin được phép nôm na gọi là phân tích học (analytical writing) và tranh luận (debating).
Viết và đọc là như thế, còn nghe và nói thì thế nào?
2. Nghe và nóiNghe thì dĩ nhiên từ lúc mở mắt cho đến khi đi ngủ thì là hoàn toàn chung đụng với Anh ngữ – ngoại trừ tiếng Việt từ người thân hoặc ở lớp dạy Việt ngữ. Tuy nhiên, không phải ai nghe gì cũng hiểu – cái hiểu biết đi theo trình độ học vấn và kinh nghiệm sống. Nói như vậy có nghĩa là kỹ thuật nghe cũng cần thời gian. Nhưng vấn đề quan trọng trước hết là làm quen với cách phát âm rồi tiếp đó nhịp điệu của câu nói (từng chữ rồi đến từng câu). Trước tuổi vào lớp vỡ lòng, các cháu bé Việt hay Mỹ cũng đều như nhau; nghe và hiểu một số từ rất giới hạn. Trong giai đoạn ấy, phần lớn nhà nào cũng nhạc và truyện thiếu nhi chất đầy!
Tuy nhiên, khi các các cháu nhỏ bước chân vào tiểu học thì nhà trường rất chú trọng đến cách phát âm của chúng. Tùy theo cách nhận xét của thầy cô, những trẻ có vấn đề với một hay nhiều âm gốc thì sẽ được gửi đến chuyên viên luyện âm / luyện giọng (speech therapist) một tuần hay nhiều hơn để họ sửa lại.
Ở bậc tiểu học, học sinh sẽ gặp nhiều nhóm chữ: cùng âm khác nghĩa, cùng âm viết khác, cùng âm viết giống khác nghĩa, khác âm viết giống. Thêm vào đó là cách dùng các thành ngữ hay đặc ngữ (idoms). Có những đặc ngữ đi trái với văn phạm, chủ từ số nhiều đi với động từ số ít hay tính từ đóng vai trạng từ, vv…
Nói chung, kỹ thuật nghe và nói đòi hỏi người học thường xuyên đắm mình trong khung cảnh và môi trường sử dụng tiếng bản xứ, hơn là học lâu dài nhưng chỉ mỗi ngày một ít. Ngoài ra viết và đọc càng nhiều thì nghe và nói càng trở nên sắc bén.
So với cách học Anh ngữ ở xứ người và cách học tiếng mẹ đẻ mà tôi đã đi qua thì chúng chẳng khác nhau cho lắm. Tuy nhiên, thời giờ có giới hạn; đồng thời, Anh văn chỉ là môn phụ trong chương trình giáo dục thì chúng ta phải giải quyết như thế nào để nâng cấp trình độ Anh ngữ của học sinh và sinh viên Việt Nam?
III. Học Anh văn ở Việt Nam
‘Dùng ba lần sai thì khó sửa” – Học ngoại ngữ không đúng từ đầu thì sẽ mất rất nhiều thời gian để tu chỉnh; Anh ngữ lại có cái khó riêng vì có rất nhiều ngoại lệ mà sách vở thì thường thiếu sót. Không thể nào một quyển sách tham khảo có thể bình luận hết tất cả các ngoại lệ. Cuối cùng, giáo viên với kiến thức căn bản chỉ lại cho học trò kiến thức nhập môn thì kết quả là đi thi thì đạt được điểm cao, mà dùng thì lại không đúng vì công thức chỉ đúng khi không chạm phải ngoại quy.
Thêm vào đó, vì thời gian có hạn, con em chúng ta học quá ít từ. Dùng một từ quen thuộc cho nhiều ngữ cảnh thì sẽ không thoát ý. Lắm lúc học trò lại thích dùng những chữ mới học để đánh bóng câu văn mà không hiểu rằng sự hoa mỹ không đúng chỗ lại làm người đọc thấy khó hiểu hoặc hiểu sai! Con em chúng ta học ít từ mà mỗi từ thì lại không thông - lấy thí dụ, chữ
go với nghĩa gốc là đi, cộng với các biến thể có đến hơn năm mươi cách dùng; chỉ học chữ
go và các biến thì (tense) là quá ít. Đấy là chúng ta chưa đề cập đến kỹ thuật nghe và nói và những khó khăn mà chính trẻ ở nước người cũng vấp phải như đã nêu trên nếu không có điều kiện hay không có người hướng dẫn tốt.
Có một số trẻ em có điều kiện để theo học những chương trình quốc tế. Nhưng chọn trường thì không phải là điều dễ. Cha mẹ thường nghĩ rằng chuẩn là phải học với người bản xứ. Nhưng thế nào là chuẩn khi giáo viên không có trình độ sư phạm và lắm lúc bị bối rối với những câu hỏi tại sao và trả lời cho qua vì nghĩ rằng học trò của mình thiếu kiến thức? Thế nào là chuẩn khi cách phát âm của họ không giống nhau? Người bản xứ ở nước này thì phát âm khác người ở nước kia. Cùng một nước tùy theo vùng mà cách phát âm lại có riêng những đặc thù. Là nhà giáo, chúng ta có trách nhiệm phải định nghĩa chữ ‘chuẩn’ cho đúng để người dân không còn có khái niệm mơ hồ. Khi họ hiểu thế nào là chuẩn thì những ai không đạt chuẩn sẽ tự loại.
Dĩ nhiên theo học chương trình quốc tế cũng có cái hay khi môi trường học dùng Anh ngữ thường xuyên hơn, một trong những điều kiện để phát huy kỹ thuật nghe và nói. Nhưng ngược lại con em của chúng ta phải chấp nhận những yếu điểm khác; thí dụ như có thể không thông cảm tiếng mẹ đẻ sâu sắc bằng các bạn học theo chương trình giáo khoa trong nước; hoặc có thể chậm hơn về các môn khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên, câu hỏi mà chúng ta nên trả lời là thế nào thì vừa đủ hay cần phải xuất chúng về văn chương hay khoa học để có thể đóng góp tích cực cho quê hương. Thế thì đối đầu với các khó khăn nêu trên trong sự giới hạn của thời gian, thiếu thốn của nhân lực, và quá nhiều điều để học thì chiến lược trồng người để hội nhập quốc tế phải như thế nào để đem đến hiệu quả tối ưu? Tôi xin mạn phép góp ý như sau:
IV. Dạy và Học Anh văn để đáp ứng sự đòi hỏi hội nhập quốc tế
1. Dạy cho đa số nghe và nói được Trước hết, ba vấn đề cần được để ý:
Thứ nhất, trên thế giới, phần lớn nước nào có số người sử dụng được Anh ngữ để trao đổi dễ dàng với cộng đồng quốc tế nhiều thì nước ấy dễ phát triển nhanh. Mặc dầu không phải ai cũng cần biết Anh ngữ; nhưng trên tất cả các lãnh vực có liên quan đến am hiểu, thoả thuận và đồng ý với cộng đồng quốc tế, ngôn ngữ này rất cần thiết.
Thứ hai, theo ước tính từ nhiều nguồn, ở Anh và Mỹ, trung bình một học sinh cấp 3 biết khoảng 10.000 – 16.000 từ; sinh viên ra trường đại học biết khoảng 20.000- 25.000 từ; để hiểu và dùng lưu loát như người bản xứ cần 20.000 từ (35.000 – 60.000 theo David Crystal). Dầu có khác nhau vài ngàn, tất cả các nguồn đều cho rằng chỉ cần thông thạo 2.000 từ thông dụng là có thể hòa mình với xã hội.(1)
Thứ ba, lấy nước Mỹ làm điển hình, một hợp chủng quốc có hơn 300 triệu dân, đại đa số ai cũng nói và nghe được Anh ngữ - trừ người bản xứ có văn hoá, phần lớn là
tạm đủ, kể cả những người dùng trật văn phạm và không thoát ý.
Như vậy chuẩn văn phạm rất cần thiết cho sự trao đổi khoa học cũng như giao tiếp qua công ước và hợp đồng (những vấn đề liên quan đến luật). Ngoài ra, làm chủ văn phạm không phải là điều kiện thiết yếu. Vì thế chúng ta không nên dạy văn phạm quá sớm, quá nhiều một cách đại trà. Quan trọng là luyện nghe và nói thường xuyên hơn ở bậc tiểu học và trung học cơ sở (THCS). Thêm vào đó là học từ và cách dùng từ trong những câu đối thoại mẫu theo các ngữ cảnh khác nhau.
Từ lớp 4 trở lên, học sinh nên bắt đầu tập viết và viết thật nhiều. Đầu tiên nên tập viết một câu tiếng Anh từ năm chữ trở xuống. Dần dần số chữ trong câu sẽ tăng dần theo thời gian. Cho đến khi xong THCS thì học sinh đã có thể viết một đoạn văn ngắn khoảng 100 chữ. Về văn phạm nên chỉ dạy kèm trong các bài viết. Mỗi bài tập viết nên chỉ nêu một yếu tố văn phạm cần thiết mà thôi. Nếu cần, nên dạy lại yếu tố ấy thường xuyên trong những bài tập viết kế tiếp.
Để tập nghe và nói, giáo viên nên sử dụng các phương tiện sẵn có trên mạng hoặc những CD từ điển kèm theo cách phát âm của người bản xứ. Không nên dùng cách phát âm lẫn lộn của nhiều nước. Trên mạng dành cho người học Anh ngữ là tiếng thứ hai (ESL) hay ngoại ngữ (EFL) có rất nhiều trò chơi dành để dạy phát âm, các giáo viên nên tham khảo để soạn bài giảng cho học trò.
Để đạt được kỹ năng tạm đủ ở cấp sơ đẳng, hoc sinh chuẩn bị vào THPT nên biết khoảng 2.000 – 3.000 từ thông dụng và chừng 100 thành ngữ thường dùng.
2. Dạy cho học trò THPT biết phân tích câu văn Nếu các bạn trẻ đã qua các lớp Anh văn ở bậc THCS như vừa nêu trên, thì phần còn lại phải học thêm ở bậc THPT là khả năng phân tích câu văn. Muốn phân tích giỏi, thì các bạn ấy trước hết phải học thêm nhiều từ và cách sử dụng từ. Để giải quyết vấn đề này, cách hay nhất là viết và đọc thật nhiều. Tập viết văn theo ngữ cảnh và tình huống bằng cách thay từ cho thích hợp rất là quan trọng. Vì qua cách học ấy, học trò sẽ cảm được ngôn ngữ mà mình học. Để luyện thêm sự nhạy bén, giáo viên nên dành 1 hay 2 tiết trong tuần để học trò tập viết văn theo phản xạ - câu văn phải ngắn, gọn, và xúc tích.
Đối với học sinh chuyên Anh, chúng ta nên bồi thêm vào chương trình học cách viết báo, thơ văn, và tiểu thuyết.
Học sinh chuẩn bị vào đại học nên biết khoảng 7.000 – 10.000 từ (chuyên Anh khoảng 10.000 – 15.000) và chừng 300 thành ngữ thường dùng.
3. Dạy cho sinh viên đại học cách viết báo cáo, bài tham khảo, và luận văn Khi vào đến đại học, sinh viên tùy theo ngành sẽ phải chọn một trong ba lớp học Anh văn cao cấp: khoa học, kinh tế thương mại, và luật. Sau khi đã cảm thông với ngôn ngữ và các ngoại lệ thì đây là lúc cần thiết để tu bổ chuyên văn phạm. Từ các ngoại lệ nhìn về cấu trúc logic của văn phạm, sinh viên sẽ hiểu được cái thâm thúy của tiếng Anh. Nhìn cái đẹp, cái chuyên, cái logic từ hướng không đẹp, không chuyên, không chuẩn thì dễ cảm thông hơn là ngược lại. Một khi học sâu cái logic của văn phạm quá sớm, quá nhiều thì những cái gì nằm ngoài khung logic thì hay làm ta bị rối trí, nghi ngại, và thường đặt vấn đề.
4. Dạy Anh văn bổ túc, sửa sai Ngoài chương trình giáo khoa của bộ giáo dục và đào tạo, xã hội nên khuyến khích và tạo điều kiện cho những người đã bỏ lỡ con đường học vấn chính quy ra đời kiếm kế sanh nhai để cho họ theo học các lớp Anh văn tu bổ và sửa sai - học sao cho nói rõ, nghe được 2.000 từ thông dụng và vài trăm câu giao tế, trao đổi điển hình là họ có thể hoà nhập với cộng đồng quốc tế.
V. Môi trường học Anh văn
1. Khả năng giáo viên Nên khuyến khích các giáo viên dạy Anh văn đạt được ít nhất 550 điểm TOEFL hoặc 7 điểm IELTS. Để dạy đại học thì nên đạt trên 1400 điểm GRE cho các môn khoa học, 650 điểm GMAT cho quản trị kinh doanh hoặc có bằng tiến sĩ cấp từ các trường quốc tế đã được thế giới công nhận. Nếu cần, nhà nước nên có những lớp chuyên tu 3/7/24 (3 tháng, 7 ngày một tuần, 24 tiếng một ngày - sống và học trong một môi trường hoàn toàn sử dụng tiếng Anh).
Cho đến nay, số người đã đi qua các khoá học Anh văn thì khá nhiều. Thành ra những cách phát âm sai hoặc dùng từ không đúng vì dịch theo nghĩa tiếng Việt đã trở thành thói quen. Nói sai thành ra nghe sai. Dùng sai thành ra viết sai. Để sửa sai một cách hiệu quả nhất, chúng ta nên dùng kiều bào bản xứ (native, sanh ra và lớn lên tại xứ người nhưng nói giỏi tiếng Việt) hoặc bán bản xứ (semi-native, sống, làm việc lâu năm trên đất bạn và hiểu thông, nói thạo tiếng Anh) thì hay hơn. Họ có thể dùng văn hóa Việt và cách phát âm tiếng Việt của từng vùng để làm điểm tựa cho học sinh theo đó mà chỉnh lại thói quen xấu.
2. Tài liệu và dụng cụ giảng dạyNgày nay, với sự đóng góp của hệ thống Internet, tài liệu giảng dạy Anh ngữ đều có sẵn và rất nhiều để giúp người học nâng cao trình độ ngoại ngữ của mình. Từ phương thức dạy học đến tự học, từ tự điển đến trò chơi, từ cách luyện âm đến dòng nhạc tất cả đều có trên mạng. Thêm vào đó, các cộng đồng trao đổi kiến thức (forums) nằm dưới sự phục vụ không vụ lợi của các giáo sư người bản xứ cũng dễ tìm.
Bởi vậy một phòng học tiếng Anh chỉ cần được trang bị một máy có đầu đọc / chép CD, một cặp loa, cộng với đường truyền tốt là vừa. Ở vùng sâu, vùng xa, không có điều kiện nối mạng thì học từ CD cũng tạm đủ. Nhưng, nếu có điều kiện, thì thêm máy chiếu (projector), và máy thâu âm. Tốt nhất là có riêng phòng lab và trong đó mỗi học sinh được phân phối riêng dụng cụ học tập.
3. Câu lạc bộ Anh văn (CLBAV) Như đã nêu trên, để học Anh ngữ cho nhanh và cho thuần thì người học cần phải đắm mình trong môi trường thường xuyên dùng Anh ngữ. Nếu có khả năng và điều kiện, chúng ta nên tạo ra các CLBAV trong trường cũng như ngoài xã hội.
CLBAV còn là nơi con em chúng ta có thể đến giải trí và hòa đồng với các bạn. Ngoài ra chúng ta có thể dùng môi trường ấy để cho các em làm báo, tranh luận. Đấy cũng là nơi các em học cách tiếp khách nước ngoài. Có gì bằng khi khách nước ngoài đến tham quan và thăm viếng Việt Nam họ có thể ghé vào các CLBAV để học hỏi thêm văn hóa từng vùng và đồng thời lấy đó làm cơ duyên để trở lại và đóng góp sau này! Một buổi gặp gỡ để rồi nối vòng tay lớn.
Trong một năm học các CLBAV có thể tìm gặp nhau một hay vài lần qua những cuộc thi đua Anh văn. Nếu tổ chức chặt chẽ, các CLBAV có thể trao đổi tài liệu, sách vở, phim ảnh để tất cả cùng học tiếng Anh.
Nói chung, CLBAV là môi trường cho các bạn trẻ giảm đi sự bỡ ngỡ và ngại ngùng khi dùng Anh ngữ trước kẻ lạ và quần chúng - giảm tật xấu tăng thói hay.
VI. Kết luận
Đã đến lúc dân tộc ta vươn ra biển lớn. Hội nhập với cộng đồng thế giới đòi hỏi chúng ta phải biết tiếng Anh. Muốn đẩy mạnh nghiên cứu và giảng dạy khoa học, chúng ta đã có chương trình đào tạo 20.000 tiến sĩ trong vòng 10 năm, con số ấy lớn nhưng lại nhỏ đối với 100 triệu dân. Nếu có tiến sĩ nhưng học sinh, sinh viên vẫn gặp trở ngại với Anh văn trong 10 năm tới thì chúng ta sẽ có thể đạt được kết quả tối ưu hay không? Đã có chương trình từ trên loang xuống, chúng ta cũng nên tạo thêm điều kiện để kiến thức loang cho dễ. Điều kiện ấy là bao trùm từ dưới đẩy lên. Bắt đầu hôm nay thì 10 năm nữa, với chương trình dạy Anh văn cho tập thể học sinh, sinh viên đúng cách, chúng ta sẽ có một đội ngũ thanh niên sẵn sàng trao đổi với bạn bè trên thế giới một cách bình đẳng. Chúng ta nên bắt tay đẩy mạnh phong trào học tiếng Anh trong mọi tầng lớp quần chúng với cách học tiếng Anh theo chuẩn quốc tế. Nền tảng của phong trào là 50.000 giáo viên dạy Anh văn có trình độ và được quốc tế công nhận. Nếu trong vòng 5 năm, chúng ta có thể tạo được nền tảng đó thì tương lai đất nước sẽ sáng nhanh hơn. Với 50.000 giáo viên, bắt đầu từ con số 2.000 vào năm thứ nhất và tăng dần đến năm thứ 5, hy vọng rằng trong vòng 10 năm, chúng ta có thể đào tạo được ít nhất 10 triệu người dân biết dùng 2.000 từ thông dụng một cách thoải mái, và khoảng 2 triệu thanh niên nam nữ dùng tiếng Anh không thua người bản xứ. Được như thế thì không còn gì quá khó để ngăn chặn chúng ta lướt sóng đại dương.
******
Rút Ngắn Khoảng Cách Giữa Việt Nam Và Thế Giới Về Thiết Kế Vi Mạch
TS Phạm Năng Tùng
Chuyên gia thiết kế vi mạch, Qualcomm, USA
Cố vấn cao cấp ICDREC – Đại Học Quốc Gia TP HCM
Tóm tắt –
Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã chứng tỏ những thành công trong thu hút đầu tư vào sản xuất. Để nâng cao hơn sự phát triễn kinh tế, việc tạo ra và đưa ngành nghề có hàm lượng công nghệ cao và xử dụng nhiều chất xám vào Việt Nam là mong muốn và nhu cầu tất yếu. Tuy thiết kế vi mạch (IC) là ngành công nghệ cao và có thị trường lớn, nó còn quá mới mẽ đối với Việt Nam. Nó đòi hỏi một mức độ đầu tư đúng mức. Hơn nữa muốn thu hút đầu tư thiết kế vi mạch từ các công ty nước ngoài vào Việt Nam cần phải có đội ngũ trí thức địa phương được đào tạo ít nhất một phần cơ bản của chuyên ngành thiết kế vi mạch để sẳn sang cung cấp nhân lực cho họ. Trong bài này, tôi xin chia xẽ những suy nghĩ của mình về thiết kế vi mạch và việc làm trong thời gian qua, hiện tại, và tương lai với ICDREC (Trung tâm nghiên cứu và đào tạo thiết kế vi mạch) của ĐHQG. Những việc làm này chỉ nhằm vào một mục đích duy nhất là rút ngắn khoảng cách giũa Việt Nam và thế giới về lãnh vực thiết kế vi mạch. Sự phối hợp và hổ trợ giữa chuyên gia Việt Kiều và đội ngũ trí thức trong nước hướng tới mục đích đầy thử thách đó chắc chắn là việc làm đúng hướng. - DẪN NHẬP
Ngày nay IC (chíp) rất là phổ biến đến nổi ai cũng thấy sự hiện diện của nó chung quanh, trong nhà, trong xe máy và chỗ làm. Những ứng dụng của IC trải rộng từ cái điều khiển TV, điện thoại, xe, máy tính, máy nghe nhạc MP3, và thậm chí trong cả đồ chơi của em bé. Hơn thế nữa, khi mà công nghệ chế tạo IC càng phát triễn, càng nhiều transistor có thể chứa đựng được trong IC nhỏ (Hình 1), và nhiều tính năng có thể cài vào trong một IC. Điều này kết hợp với sự giảm giá chế tạo làm cho IC ứng dụng càng ngày càng rộng rãi trong đời sống.
Tuy rằng thị trường IC rất lớn và trải rộng toàn cầu, nhưng đa số thị phần rơi vào khoảng mươi công ty. Đa số là công ty Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, và một số nước Châu Âu như thể hiện trên Bảng 1. Các quốc gia khác chiếm thị phần rất nhỏ. Tuy nhiên, một công ty tuy có thị phần nhỏ, vẫn có thể kiếm được nhiều tiền. Bảng 2 ghi lại dự đoán cho IC trong năm 2006 – 2009.
Thiết kế vi mạch còn tương đối mới mẽ đối với Việt Nam. Với tốc độ ra tăng phát triễn kinh tế cao, minh chứng bởi đầu tư 1 tỷ USD từ Intel vào nhà máy lắp ráp và đóng gói, và với chính sách kinh tế mở cửa,Việt Nam có cơ hội lớn tham gia vào thiết kế và chế tạo vi mach, tức là với tư cách người sản xuất thay vì chỉ đơn thuần là người tiêu dùng.
Hình 1. Luật Moore. Số transistor trong IC gia tăng gấp đôi cứ mỗi 2 năm.
Hiểu được tình trạng hiện tại của thiết kế vi mạch tại Việt Nam sẽ giúp phân tích khoảng cách giữa Việt Nam và thế giới. Thu hẹp khoảng cách đó đòi hỏi chiến lược tạo ra liên tục tiến bộ trong những năm tới. Nhìn lại lich sử của thiết kế vi mạch, Hàn Quốc có thể coi như là tấm gương tốt của một quốc gia hầu như không đáng kể về điện tử và bán dẫn trở thành một trong những quốc gia hàng đầu về thiết kế và chế tạo IC cho toàn thế giới. Trong những phần tiếp theo của bài này, những suy nghĩ về thiết kế vi mạch, và những viêc làm với ICDREC để thúc đẩy thiết kế vi mạch tại Việt Nam được chia sẻ.
Bảng 1. Dự đoán thị phần vi mạch
Bảng 2. Dự đoán tăng trưởng của thị trường vi mach trong 2006 – 2009
- TÌNH TRẠNG HIỆN TẠI CỦA THIẾT KẾ VI MẠCH VIỆT NAM
Hiện tại không có một nghiên cứu nào được xuất bản nói về tình trạng của thiết kế vi mạch tại Việt Nam. Hiện không có nhiều lắm công ty hoạt động trong lĩnh vực vi mạch tại Việt Nam. Công ty lớn nhất và có lẻ có mặt sớm nhất tại Việt Nam là công ty Renasas của Nhật Bản. Renasas thiết kế cho thị trường SoC (system-on-chip, tức la hệ thống trên chip) dựa vào bộ xử lý (processor) họ SH của Hitachi, và ARM mua từ công ty ARM. Các công ty khác bắt đầu có mặt tại Việt Nam là công ty Samsung, STMicroelectronics và Altera. Hiện tại Samsung chỉ có kế hoạch sản xuất điện thoại cầm tay. STMicroelectronics dự định mở lớp đào tạo cho kỹ sư Việt Nam và sẽ tập trung về set-top box cho TV vệ tinh. Ngoài ra, còn có công ty nhỏ của Việt Kiều như SDS, Signet, nhưng họ chỉ làm một phần như bộ nhớ hoặc tổng hợp cho đầu cuối trong thiết kế.
Trong môi trường đại học và nghiên cứu, hầu như chưa có chương trình rõ ràng về thiết kế vi mạch. Có lẽ, lớp học “Phân tích và thiết kế vi mạch số” là lớp học ở trình độ cao học đầu tiên dược tổ chức vào năm 2006 từ sự kết hợp giữa Qualcomm và ICDREC của ĐHQG và sử dụng tài liệu giảng dạy của trường ĐH Texas. ICDREC được tạo ra nhằm như là người tiên phong trong đào tạo, nghiên cứu và thiết kế vi mạch. Trừ dự án được nhà nước tài trợ và giao cho ICDREC, có lẻ không có những dự án khác về vi mạch được tài trợ.
Về nối kết giữa công ty và trường học, tuy có nhưng còn rất yếu. Về lãnh vực phần mềm tự động hóa (CAD), hầu như Việt Nam không có. Tuy nhiên nhiều công ty trong lãnh vực này như Synopsys, Cadence và Mentor đã hoặc bắt đầu vào Việt Nam.
| Công ty | Công việc | Số năm ở VN |
| Altera | Programmable ICs | Kém hơn 1 năm |
| Cadence | Công cụ tự động |
|
| Intel | Lắp ráp và đóng gói | Đang xây nhà máy |
| Mentor | Công cụ tự động | Kém hơn 1 năm |
| Renasas | SoCs | 3 năm |
| Samsung | Phones (handsets) | Kém hơn 1 năm |
| SDS | IPs như bộ nhớ Memory |
|
| Signet | Tổng hợp phần cuối |
|
| STMicroelectronics | set-top box | Kém hơn 1 năm |
| Synopsys | Công cụ tự động | Kém hơn 2 năm |
Bảng 3 thể hiện các công ty có mặt tại Việt Nam và công việc được coi là họ đang tham gia trong lãnh vực vi mạch tại Viêt Nam
Bảng 3: Công ty vi mạch tại Việt Nam
- BÀI HỌC HÀN QUỐC
Nền công nghiệp điên tử của Hàn Quốc bắt đầu vào thời điểm khi mà công ty Gold Star chế tạo ra radio sử dụng bóng đèn điện tử năm 1958. Vào thập niên 1960, các công ty của Hàn Quốc rất vất vả và thất bại trong mưu cầu một thị phần nhỏ của thị trường lắp ráp và đóng gói. Trong những năm cuối 1960 và đầu 1970, Viện Khoa Học và Kỹ thuật Hàn Quốc bắt đầu nghiên cứu diode và transistor. Transitor bắt đầu bằng cách tháo dỡ và bắt chước (reverse engineering). Mãi đến năm 1980, Hàn Quốc bắt đầu nghiên cứu CMOS transistor và bộ nhớ. Và không tới 30 năm sau, Hàn Quốc với những công ty hàng đầu như Samsung và Hynix đã trở thành một trong những quốc gia hàng đầu về thiết kế và chế tạo vi mạch cho thế giới.
Một trong những chìa khóa dẫn đến sự thành công là những những khởi nguồn và sáng tạo của chính phủ Hàn Quốc trong việc hợp sức các trường đại học để thúc đẩy phát triễn vi mạch. Chẳng hạn sau năm 1982 khi chính phủ Hàn Quốc mở ra một “Dự án quốc gia về khoa học và kỹ thuật” để thúc đẩy vi mạch, vi mạch trở thành phổ biến khắp nước. Một ví dụ minh chứng khác là năm 1985, một số trường đại học liên kết chế tạo vi mạch bao gồm nhiều mạch điện khác nhau, trong dó có cả 8 bit microcomputer.
Sự cộng tác giữa chính phủ Hàn Quốc (Bộ Khoa Học và Kỹ Thuật) và các trường đại học như Seoul National University và viện như Korea Institute of Science and Technology vô cùng quan trọng cho sự thành công của Hàn Quốc. Xin xem phần bài tham khảo cho danh sách các đơn vị chính yếu đóng góp vào sự thành công của nền công nghiệp vi mạch Hàn Quốc.
- KHOẢNG CÁCH, ĐỀ NGHỊ, VÀ VAI TRÒ CỦA CHUYÊN GIA VIỆT KIỀU
Khoảng cách giữa Việt Nam và thế giới về thiết kế vi mạch có thể xếp vào những lĩnh vực như sau đây.
- Khoảng cách trong giáo dục
Đây là yếu tố hàng đầu có thể ngăn cản Việt Nam trở thành người chơi quan trọng trong thiết kế và chế tạo vi mạch. Trong những quốc gia tiên tiến hàng đầu như Mỹ, có rất nhiều trường đại học đào tạo về thiết kế vi mạch từ kỹ sư đến tiến sĩ. Trái lại, ở Việt Nam hầu như không có chương trình chính qui như vậy. Hơn nữa, Mỹ hàng năm liên tục đem vào nước những sinh viên và kỹ sư giỏi để giúp họ tiếp tục giữ vị thế hàng đầu thế giới về khoa học ký thuật nói chung và vi mạch nói riêng.
Viêt nam cần phải có kế hoạch chiến lược để đào tạo giảng viên để đào tạo sinh viên bằng cách gởi sinh viên và kỹ sư giỏi ra nước ngoài học hỏi và làm việc. Một bộ phận của họ sẽ trở về tham gia giảng dạy và thúc đẩy thiết kế vi mạch tại Việt Nam. Dỉ nhiên là Viêt Nam cần phải có kế hoạch đào tạo tiến si trong lãnh vực vi mạch.
Tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ lựa chọn cho khoa học và kỹ thuật, giáo dục, hội nghị, cũng như giao dịch. Yêu cầu trình độ tiếng Anh phải được đặt ra. Hoc sinh phải có điểm số tối thiểu TOFEL (Test of English as foreign language) là 450 mới có thể được nhận vào trường đại học. Và sinh viên phải đạt ở mức độ 520 - 550 trước khi họ xong văn bằng 4 năm. Yêu cầu này sẽ giúp đỡ sinh viên nhiều lãnh vực. Sinh viên có thể tham khảo sách giáo khoa và tài liệu viết bằng tiếng Anh một cách dễ dàng hơn. Sinh viên dễ kiếm việc làm ở các công ty nước ngoài trong và ngoài nước hơn. Một thuận lợi nữa là sinh viên dễ chập nhuận vào các trường đại học nước ngoài để nâng cao hơn. Kinh nghiệm bản thân tôi tại Mỹ cho thấy các sinh viên và kỹ sư từ Ấn Độ có lợi điểm hơn nhiều nước khác vì họ học tiếng Anh rất sớm và tiếng Anh là ngôn ngữ chính trong trường học và nước Ấn Độ. Rào cảng ngôn ngữ có thể cướp đi mất rất nhiều cơ hội tốt. Nếu có thể giảng dạy bằng tiếng Anh trong môi trường đại học thì càng tốt. Nhưng việc này đòi hỏi một thời gian chuẩn bị và chuyển tiếp dài.
May mắn là có một lực lượng chuyên gia Việt Kiều có trình độ học vấn cao và có nhiều năm kinh nghiệm trong các công ty hi-tech. Họ có thể điền đầy lỗ hống trong khi chờ đợi “thế hế mới” được đào tạo xong. Khi kinh tế Việt Nam phát triễn mạnh, nhiều người quan tâm đến làm ăn với Việt Nam nhiều hơn, nhiều công ty và đơn vị có thể kéo vào cộng tác với Việt Nam về thiết kế vi mạch. Chẳng hạn như ARM đã lên lớp tại ĐHQG. ARM cũng đã cho phần mềm, quyền sủ dụng cho ĐHQG cũng như là họ đang chuẩn bị cho lớp trong tương lai. Mối quan hệ giữa ARM với ĐHQG thể hiện theo kiểu mẫu “Win-Win”, trong đó các bên tham gia đều có lợi. Kiểu mẫu này cần được nhân rộng với các đối tác khác để thúc đảy nhanh nền công nghiệp IC tại Việt Nam.
Đào tạo từ xa tuy không mới mẽ, nhưng mãi tới gần đây, thử nghiệm video conference giữa Viêt Nam và Mỹ bởi ICDREC mới được thực hiện. Kết quả có nhiều triễn vọng tốt. Một trung tâm đào tạo từ xa kết hợp với mạng lưới chuyên gia Việt Kiều sẽ là một cách hiệu quả và kinh tế để thúc đẩy vi mạch tại Việt Nam.
- Khoảng cách trong chuyên môn
Việt Nam hiện thiếu chuyên môn trong thiết kế vi mạch. Những chuyên môn này được tích lũy qua nhiều năm học tập và làm việc thực tế. Những chuyên môn này không thể tạo dựng trong một hoặc hai năm. Một lần nữa may mắn thay Việt Nam có đội ngũ Việt Kiều có thể lấp lỗ hổng này. Chỉ ít nước như Việt Nam và Ấn Độ mới có đội ngũ chuyên gia Việt Kiều đông đảo như vậy. Nếu Việt Nam không tận dụng nguồn nhân lực “tự nhiên” đó thì là một lãng phí rất lớn. Việt Nam cần phải tuyển dụng những chuyên gia này, bán phần hoặc toàn phần để thúc đẩy sự phát triễn vi mạch. Tất nhiên để thu hút, cần phải có mức lương , đãi ngộ và điều kiện làm việc thích hợp.
Qualcomm thông qua ICDREC dự định tổ chức các lớp chuyên môn về thiết kế vi mạch cho ĐHQG. Từ mối quan hệ, Việt Kiều có khả năng mang trợ giúp của các công ty và trường đại hoc từ nước ngoài về cho Việt Nam, nhất là những công ty có mặt tại Việt Nam theo kiểu mẫu “Win-Win”.
- Khoảng cách trong hợp tác và hổ trợ của các công ty
Việt Nam hiện tại chỉ có một vài công ty về thiết kế vi mạch. Việt Nam cần có chính sách và đầu tư thích hợp để thu hút nhiều công ty vi mạch vào Việt Nam. Viêt Nam cũng cần tạo cơ hội nhiều hơn để nhiều công ty vi mạch ra đời. Nhà nước cũng có thể cho vay vốn hoăc cùng đầu tư nếu như công ty ra đòi có nhiều triễn vọng đem ich lợi cho xã hội. Có nhiều công ty thì sẽ có nhiều hổ trợ. Chẳng hạn như sinh viên sẽ có động thái học tập mạnh hơn vì họ có nhiều cơ hội kiếm được việc làm để kiếm sống và phát triễn sau khi ra trường.
Mặc dầu đã có dấu hiệu sự hợp tác chẳng hạn như Altera đã mở lớp tại ĐHQG, sự kết nối giữa các công ty và trường đại học còn rất yếu. Ngược lại, sự kết nối đó rất mạnh mẽ tại Mỹ. Đề nghị nên gia tăng liên kết giữa công ty và trường học. Chẳng hạn như đại học có thể xây dựng chương trình theo nhu cầu cụ thể của các công ty. Trường cần tăng cường gởi sinh viên đi thực tập tại các công ty. Sự hổ trợ của công ty còn có thể ỏ dạng đở đầu cho dự án, cùng tham gia dự án, cấp học bỗng cho sinh viên du học nước ngoài, v.v…
- Khoảng cách trong hổ trợ từ chính phủ
Sự hổ trợ từ chính phủ rất là lớn trong các nước như Mỹ. Ví dụ như nhiều đề tài và dự án lớn đã đươc tài trợ bởi các cơ quan chính phủ như Bộ Quốc Phòng, Cơ Quan Môi Trường …
Sự ra đời của ICDREC và những dự án đã và đang thực hiện bởi ICDREC là sự đầu tư và bước đi đúng hướng. ICDREC đã lôi kéo được nhiều công ty đỡ đầu như Synopsys, Qualcomm. Chip xủ lý 8 bit đầu tiên của Việt Nam thiết kế bởi ICDREC là bằng chứng cho thành công ban đầu. Nó chắc chắn sẽ giúp lôi cuốn nhiều công ty vi mạch đầu tư vào Việt Nam và giúp thúc đẩy vi mạch. Tuy nhiên, nếu được hổ trợ kinh phí lớn hơn, nhiều trường đại học tham gia vào dự án lớn hơn, tác động của sự thành công sẽ lớn hơn, giống như trường hợp của Hàn Quốc đã nêu trong phần trước.
Cần tạo ra nhiều hơn sự hấp dẫn trong thuế và chính sách để có nhiều công ty vi mạch ra đời tại Việt Nam. Đây là một trong vấn đề “gà và trứng”. Nếu không có việc làm thì không ai dạy và học vi mạch. Cũng vậy, nếu không có nhân lực thì đâu mở công ty được. Sự đầu tư ban đầu và chính sách của chính phủ sẽ giúp vượt qua được bài toán “gà và trứng”. Hiện nay chưa có một công ty vi mạch nào được tạo ra và điều hành bởi người trong nước.
- Khoảng cách trong hợp tác giữa các trường đại học
Sự hợp tác giữa các trường đại học trong lãnh vực thiết kế vi mạch là rất cần thiết để gom lại tất cả các tài năng để phát triễn. Một lần nữa, nếu so sánh với quốc gia như Mỹ, thì sự hợp tác này của Việt Nam rất yếu. Ở Mỹ có nhiều dự án trong đó mỗi trường chịu trách nhiệm một phần dựa vào khả năng chuyên môn. Việt Nam cũng cần có dự án nhà nước như vậy để thúc đẩy nhanh vi mạch. Việt Nam cũng cần phải đẩy mạnh hơn sự cộng tác của các trường đại học Viêt Nam và nước ngoài trong đào tạo và thiết kế vi mạch. Có như vậy mới đẩy nhanh được sự phát triễn.
- KẾT LUẬN
Hiểu được hiện trạng thiết kế vi mạch tại Việt Nam, tiến tới phân tích khoảng cách giữa Viêt Nam và các nước phát triễn là bước đầu tiên để có thể tạo ra kế hoạch ngắn hạn và chiến lược để rút ngắn khoảng cách đó. May mắn là Việt Nam có được một đội ngũ chuyên gia Việt kiều có thể giúp quá trình rút ngắn khoảng cách đó. Đào tạo từ xa có lẽ là một trong những phương thức hiệu quả và kinh tế để sử dụng nguồn tài nguyên đó. Kết hợp giữa chuyên gia Việt Kiều và trí thức trong nước chắc chắn là một trong những chiến lược thiết yếu. Chắc chắn sẽ mất rất nhiều năm để đóng lại khoảng cách giữa Việt Nam và thế giới, nhưng nếu Việt Nam tiếp tục tạo được tiến bộ liên tục trong nhũng năm tới, thì người Việt Nam có quyền hy vọng vào sự thành công như đã được thấy từ Hàn Quốc. Để hy vọng đó thành hiện thực, cũng cần phải có mức độ đầu tư đúng mức và chính sách hiệu quả từ phía chính phủ.
- GHI NHẬN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hổ trợ quan trọng của Giám đốc ĐHQG, PGS, TS Phan Thanh Bình; ông Hoàng Ngọc Diệp, Sr Director của Qualcomm Việt Nam đã giúp đở và đem trợ giúp của Qualcomm về cho ICDREC. Tôi cũng xin cảm ơn TS Nguyễn Thanh Nam, GD và ThS Ngô Đức Hoàng, PGD của ICDREC đã tạo cơ hội cho tôi hợp tác và đóng góp vào đào tạo nghiên cứu và thiết kế vi mạch, cũng như mở lớp vi mạch bậc cao học đầu tiên tại Việt Nam và tham gia cố vấn trong thiết kế bộ xử lý đầu tiên của Việt Nam . Tôi cũng xin cảm tạ GS Nur Touba của University of Texas tại Austin đã cung cấp tài liệu cho lớp hoc. Sự hổ trơ của ông Bill Hohl từ University Relations của ARM cũng xin được ghi nhận nơi đây. Cuối cùng thử nghiệm video conference giữa Austin, Texas và ĐHQT chắc chắn đã không thực hiện được nếu như không có sự tham gia nhiệt tình của ông Phil Hoang của Silicon Labs, ông Lê Đinh Việt Hải và Nguyễn Thanh Hậu của ĐHQG.
- THAM KHẢO
- Young-uk Yu, “VSLI design and CAD technology in Korea,” IEEE Design and Test of Computers, pp. 29–38, October 1989.
- Moore’s law chart from www.intel.com
- Semiconductor forecast by SIA
- Semiconductor by isupply from www.wikipedia.org
Việt Nam cần gì ở Việt kiều trong giai đoạn phát triển kinh tế của mình.
TS Nguyễn Quốc Bình
PGĐ Trung tâm Công Ngệ Sinh học TP HCM
Phải nói rằng trong cái rủi ro của sự chiến tranh thì ít ra nó mang lại cho chúng ta một may mắn, đó là lực lượng người việt nam ở nước ngoài. Một tài nguyên không nhỏ đối với Việt nam trong thời kỳ phát triển hiện tại.
Việt nam từ một nước có thu nhập thấp đang cố gắng trong một thời gian ngắn sắp tới đạt được mức tăng tưởng cao để có thể trở thành nước có thu nhập trung bình. Việt nam đã gia nhập WTO, đó là điều kiện thuận lợi để Việt nam có thể hội nhập nhanh với thề giới, tận dụng thế mạnh của mình để phát triển. Song không ít khó khăn mà Việt nam phải vượt qua trong thời gian tới này. Theo tôi khó khăn chính mà Việt nam đang và sẽ gặp phải trong sự hội nhập kinh tế toàn cầu của mình là nhân sự. Nhân sự thiếu ở đây là nhân sự có thể làm việc tương đương với thế giới, chứ không phải nhân sự cho đủ chổ. Hiện tại tiền lương thấp không khuyến khích nhiều người làm việc một cách có hiệu quả. Song nếu làm việc có hiệu quả thì có thể có một tiền lương cao. Vậy chúng ta thiếu nhân sự gì là chính? Theo tôi chúng ta người làm việc một cách chuyên nghiệp. Từ người giúp việc đến người lảnh đạo. Người lảnh đạo ở đây tôi muốn nói cả trong và ngoài Quốc Doanh. Nếu như công ty tư nhân có lãnh đạo kém thì công ty không thể phát triển được. Công ty đó sẽ bị phá sản. Song nếu là lãnh đạo một đơn vị nhà nước thì nó sẽ gây đình trệ công việc, gây lỗ cho nhà nước. Nhân lực đó lấy ở đâu ra? Chúng ta phải đào tạo, hoặc tìm nhân lực có sẳn. Chúng ta đang nổ lực đào tạo. Song muốn đào tạo được những người đầu ngành không phải chỉ có thể đào tạo trong ghế nhà trường, và cũng không thể đào tạo trong 2-5 năm như đào tạo thạc sỹ tiến sỹ. Những người đó cần có thời gian tích luỹ kinh nghiệm trong môi trường tốt. Vậy tốt nhất cho Việt nam, trong thời gian chờ các đào tạo được người, chúng ta cần tận dụng lưc lượng Việt kiều có chuyên môn cao, có kinh nghiệm làm việc ở các nước tiên tiến, có ngoại ngữ tốt. Lực lượng việt kiều về hưu và sắp về hưu là lực lượng dồi dào, chí phí thấp. Song họ có nhược điểm là ít năng động. Việt kiều thế hệ trẻ họ năng động nhưng ngược lại họ cần được trả lương đầy đủ để họ có thể sống và làm việc với điều kiện tương đồng với bên nước sở tại. Tất nhiên không phải Việt kiều nào cũng có thể đảm trách được những công việc mà Việc nam đang cần. Việt nam cần những người đầu đàn trong khoa học, những người có kinh nghiệm trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau. Những người này có tầm quan trọng chiến lược cho nền kinh tế. Vì nếu chúng ta ai cũng được trả lương như nước ngoài thì Việt nam chưa có khã năng. Còn nếu chúng ta không mở rộng thu nhận nhân tài này thì chúng ta sẽ phải trả giá bằng thời gian. Nước Mỹ đã tận dụng tốt những người nhập cư tài giỏi trong những thế kỷ trước cho nên họ đã phát triển nhanh. Singapore hiện tại cũng đang thực hiện chính sách này và họ cũng đang phát triển nhanh. Việt nam ta có lược lượng đông đảo Việt kiều tài ở nước ngoài có thể trở về làm việc ở trong nước, đó là nguồn tài nguyên lớn nhất mà Việt nam nên khai thác càng nhanh càng tốt. Nói như vậy không có nghĩa là người ở trong nước không có người giỏi?. Có rất nhiều người giỏi nhưng so với số chúng ta cần thì còn quá ít. Mặt khác, khó có thể có được một chính sách đúng phân biệt người tài trong nước để trả lương xứng đáng cho họ. Thường những người này hoặc làm việc cho các công ty nước ngoài hoặc mở công ty riêng.
Những ý tưởng trên không phải là mới, Chính phủ đã có nhiều chính sách để thực hiện song có cái gì đó vẫn lấn cấn chưa có thể triển khai được một cách thông suốt. Theo tôi vấn đề chính là chúng ta cần ai cụ thể?. Theo kinh nghiệm mà tôi có được ở Việt nam là Việt nam đang cần những người có kinh nghiệm, kỷ thuật cao, những người đầu ngành. Không những vậy, những người này cần am hiểu tốt điều kiện, khã năng hiện tại của Việt nam để đưa ra những tư vấn, những chiến lược những dự án khã thi cho Việt nam. Những dự án giãi quyết vấn đề vương mắc trong nền kinh tế hiện tại. Những người này cần có cả chiến lược đào tạo người cho các dự án đó. Là những người làm việc tại chổ và có thời gian làm việc khá lâu dài với Việt nam. Tất nhiên điều kiện tiên quyết để những người này thành công là phải có một cơ chế thoáng, đặc biệt cho họ và họ phải được hổ trợ tối đa của những người lãnh đạo trong nước. Và điều quan trọng nữa là không nên đặt những người này dưới những người không có năng lực trong nước để kiểm soát. Vì như vậy họ không thể phát huy được tài năng của họ.
Giải quyết bài tóan thu hút trí thức Việt kiều dưới góc độ kinh tế học Vấn đề thu hút chuyên gia Việt kiều là 1 vấn đề rất được mọi người quan tâm, nhưng những chính sách của Nhà nước lại chưa đem đến hiệu quả như mong muốn. Có nhiều nguyên nhân được đưa ra, nhưng tôi xin liệt kê 1 số nguyên nhân chính như sau:
1/
Đồng lương không cạnh tranh với nước ngòai: những chuyên gia Việt kiều đều là những người đang có chỗ đứng ở nước ngòai, được trả lương rất cao so với mặt bằng chung trong nước. Do đó việc thu hút những chuyên gia này sẽ gặp phải lực cản về cơ chế, vì sẽ tạo ra 1 khỏang chênh lệch lớn về thu nhập. Ngoài ra chi phí trả lương cho đội ngũ này cũng là 1 vấn đề cần quan tâm.
2/
Điều kiện làm việc không phù hợp: Việc một nhà khoa học làm việc có hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào môi trường làm việc, trong đó sách báo, tạp chí, hệ thống liên lạc thông tin, các buổi hội thảo, v.v là rất quan trọng. Điều đó dẫn đến bài toán kinh phí.
3/
Phải thay đổi chỗ ở: Những chuyên gia Việt kiều đa phần là đã có gia đình ở nước ngòai, việc phải thay đổi chỗ ở là 1 việc không dễ dàng.
Theo tôi, đây là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc các chuyên gia Việt kiều còn ngần ngại khi quyết định về nước làm việc. Vì vậy, tôi đề nghị 2 giải pháp chính như sau:
- Thứ nhất, Nhà nước phải có những yêu cầu hết sức cụ thể về việc kêu gọi Việt kiều về nước. Tất cả những sự đóng góp của những chuyên gia này đều hết sức đáng quý và cần thiết, tuy nhiên tùy thời điểm mà có sự đóng góp này sẽ cần thíết hơn những sự đóng góp khác. Lấy ví dụ như Nhà nước cần phát triển nghề chế biến nông sản để xuất khẩu vì đây là chính sách giúp giải quyết đầu ra sản phẩm cho nông nghiệp, một ngành đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế Việt nam. Do đó chính sách thu hút Việt kiều trong lĩnh vực này có lẽ sẽ bức thiết hơn trong những lĩnh vực khác. Nhà nước phải đưa ra được 1 chính sách làm sao có thể giúp nông dân bảo quản được sản phẩm của mình để có thể đem đi xuất khẩu. Chính sách đó sẽ cho ta thấy cần bao nhiêu nhân lực (không phân biệt trong nước hay ngoài nước) trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển công nghệ bảo quản thực phẩm, và phải hoàn thành trong thời gian bao lâu. Nguồn lợi của chính sách này phải được tính toán cụ thể, để có thể đem ra so sánh với chi phí thu hút Việt kiều về giúp đỡ trong lĩnh vực này. Nói tóm lại, biện pháp này bao gồm việc vạch ra chính sách cụ thể để phát triển những ngành nghề quan trọng, đặt ra những yêu cầu cụ thể cho các chuyên gia Việt kiều trong từng chính sách, và đưa ra những quyền lợi về thu nhập, điều kiện làm việc, v.v. Biện pháp này sẽ giúp giải quyết 2 vấn đề đã kể trên, đó là bài tóan thu nhập và điều kiện làm việc: Việc cụ thể hóa lợi nhuận thu được từ chính sách thu hút Việt kiều sẽ giải thích cho những chi phí của biện pháp này. Việc công khai hóa và không hạn chế sự kêu gọi của nhũng chuyên gia trong nước cũng góp phần làm hạn chế những thắc mắc về chênh lệch thu nhập. Cuối cùng, sự đánh giá đúng khả năng (thông qua việc giao yêu cầu cụ thể) và sự đóng góp (qua việc trả lương thỏa đáng và điều kiện làm việc tốt) sẽ làm cho những chuyên gia Việt kiều được cảm thấy tôn trọng, để bù đắp những thiệt thòi do sự di chuyển chỗ ở và làm việc mang lại.
- Thứ hai, Nhà nước cần có những chính sách đem lại cảm giác được đón tiếp như những người thân trở về nhà. Tất cả mọi con người Việt nam, dù xa quê bao năm đều mong muốn có một ngày được trở về trong sự chào đón của những người đồng bào mình. Mọi sự tiếp đón ân cần và chu đáo đều là sự khích lệ rất lớn, giúp những trí thức Việt kiều sẵn sàng cống hiến hết khả năng của mình cho sự phát triển của đất nước.
Trên đây là 2 biện pháp mà theo tôi có thể giải quyết được những vấn đề còn khúc mắc trong việc kêu gọi sự giúp đỡ phục vụ của Việt kiều. Do khuôn khổ thời gian có hạn cũng như tầm hiểu biết còn hạn chế, chắc chắn những biện pháp trên vẫn còn nhiều khiếm khuyết. Tôi hy vọng những sự trao đổi thẳng thắn trong buổi thảo luận sắp tới sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn thấu đáo hơn về vấn đề này, cũng như sẽ tìm ra những biện pháp thu hút được nguồn lực Việt kiều, một nguồn lực to lớn mà lâu nay chúng ta chưa tận dụng đúng khả năng. Chúc hội nghị thành công tốt đẹp.
TpHCM ngày 20 tháng 12 năm 2007
Trân trọng
Lương Tuấn Anh
Tham luận – HA Duong Duc, Giám đốc công ty Officience
- Trở về Việt Nam và cảm thấy sống tốt hơn ở bất cứ nơi nào khác
Những người Việt Kiều trở về quê hương vì tại đây họ tìm lại được bạn bè xưa, tìm lại được người thân trong gia đình, khu phố từng sống, nhưng quan trọng hơn hết, cái họ tìm kiếm là một chất lượng cuộc sống tốt hơn. Cụ thể, họ tìm kiếm một sự kết hợp giữa những cái tốt đẹp nhất của thế giới phương Tây và những cái tốt đẹp nhất của Việt Nam.
Muốn thành công, những người trở về phải làm sao thích nghi được với cơ chế của xã hội Việt Nam, và trong quá trình này, một sự hỗ trợ gần gũi, tin cậy sẽ giúp họ nhanh chóng hiểu được cách thức tổ chức và hoạt động của các cơ quan công quyền, những khó khăn và cơ hội hiện có. Thông tin mà họ có được chủ yếu là qua truyền miệng từ người này sang người khác bởi vẫn chưa có một cơ chế thông tin rõ ràng và hiệu quả, và chắc chắn để làm được điều đó sẽ phải mất khá nhiều thời gian. Trong khi chờ đợi, người ta dễ bị ảnh hưởng bởi những tin đồn thổi và thấy cái xấu ở khắp nơi. Đó là vấn đề cần phải khắc phục dần dần.
Ngoài ra, các cơ quan công quyền như công an chính trị cũng cần phải có một phương pháp tiếp cận mới hơn để không làm nản lòng những người Việt Kiều đang nỗ lực hội nhập vào cuộc sống ở Việt Nam, nhất là những Việt Kiều trẻ thuộc thế hệ thứ hai bởi họ hầu như không hiểu gì về những vấn đề của quá khứ.
Kiến nghị : xây dựng một cơ chế tạm gọi là « đỡ đầu » giữa những người Việt Kiều và các quan chức chính phủ hiện đang làm việc hoặc đã về hưu.
- Họ muốn được đóng góp : hãy tạo điều kiện thuận lợi cho việc gặp gỡ và trao đổi
Phải xây dựng được một cộng đồng gắn kết trên nền tảng của tri thức, vượt qua mọi khoảng cách. Không nhất thiết cứ phải về nước mới có thể đóng góp? Cần tạo điều kiện cho các Việt kiều có thể bắt đầu quá trình đóng góp của mình một cách từ từ, đầu tiên là bắt đầu ngay từ nơi họ đang sinh sống ở ngoài Việt Nam, họ vẫn có thể tiếp tục làm công việc của họ. Ban đầu, sự đóng góp có thể dưới hình thức tham vấn, đào tạo... Phải làm sao để họ có thể dần dần xây dựng những mối quan hệ đối tác đầu tiên ở trong nước mà không bắt buộc phải từ bỏ ngay lập tức tất cả những gì họ đang có để dấn thân vào một chọn lựa vì như vậy họ phải chấp nhận quá nhiều rủi ro.
Kiến nghị : Xây dựng một mạng lưới các chuyên gia Việt kiều. Khi cần thiết, OVS sẽ tổ chức các cuộc thảo luận qua điện thoại trong vòng vài giờ giữa những chuyên gia Việt kiều tình nguyện và những đơn vị cần sự hỗ trợ, tham vấn ở Việt Nam.
- Họ muốn được phát huy hết khả năng của mình : hãy trao cho họ những phương tiện mà họ cần
Tiền không thiếu nhưng vấn đề là đầu tư như thế nào? Có thể xây dựng một cơ cấu độc lập, đáng tin tưởng, có khả năng thực hiện nhiệm vụ giám sát, để Việt kiều có thể yên tâm trở về quê hương mang tiền của mình đầu tư, hoặc để các nhà đầu tư có thể đầu tư dễ dàng hơn.
Ngoài ra, phải làm sao để các chuyên gia Việt kiều trở về nước được làm việc, thực hiện các dự án của họ trong những điều kiện cơ sở vật chất giống như ở nước ngoài, đồng thời vẫn có thể tiếp tục thực hiện những trách nhiệm mà họ đang có bởi vì đối với các chuyên gia. Những quan hệ mà họ đã mất nhiều năm xây dựng quan trọng chẳng kém gì những kiến thức kinh nghiệm mà họ có. Phải làm sao để họ vẫn giữ được và phát huy những quan hệ đó.
Kiến nghị : dành riêng một tòa nhà dành cho việc đón tiếp, tạo điều kiện để các Việt kiều có thể thuê văn phòng làm việc (business center) với tiêu chuẩn quốc tế, nơi họ có thể tiếp tục công việc của họ ở nước ngoài, đồng thời có được sự hỗ trợ cần thiết để phát triển dự án đầu tư của họ tại Việt Nam. Trung tâm này sẽ được kết nối với thế giới, hiện đại như bất cứ trung tâm nào khác trên thế giới, không có sự khác biệt (mở cửa 24/24, điện thoại, hội thảo từ xa, tiếp tân trực tổng đài sử dụng được nhiều ngôn ngữ khác nhau...)
- Giữ mối liên hệ với bên ngoài : hãy đảm bảo việc đi lại được dễ dàng
Cửa dành riêng cho “nhà đầu tư” để làm thủ tục xuất nhập cảnh tại sân bay không còn nữa. Điều đó cũng không hẳn quan trọng, thực ra thì như vậy cũng chẳng nhanh hơn được bao nhiêu, nhưng đó quả là một sáng kiến có một không hai mà tôi chưa từng thấy ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Hiện nay, Việt kiều không cần xin visa để vào Việt Nam, và đó cũng là một chính sách tuyệt vời chỉ có duy nhất tại Việt Nam. Cần phải tiếp tục theo hướng đó, và không ngần ngại đưa ra những sáng kiến khác tương tự. Ở Mĩ hay ở châu Âu, người ta vẫn còn nghĩ về Việt Nam như một đất nước xa xôi, phải trải qua những chuyến bay dài mệt mỏi, phải chuẩn bị trước rất lâu, việc đi lại do đó đối với họ là cả một vấn đề không đơn giản chút nào.
Kiến nghị : Đề nghị Vietnam Airlines mở chế độ “trọn gói không giới hạn trở về quê hương” (có thể hình dung 1 Việt kiều Pháp mua một gói bay trọn gói, ví dụ 5000 USD, anh ta có thể bay khứ hồi tuyến Pháp – Việt, Việt - Pháp bất cứ lúc nào, không giới hạn số lượt bay, được đảm bảo đặt được chỗ cho đến giờ chót, gia đình của anh ta cũng được hưởng một số ưu tiên nhất định) sao cho việc đi lại không còn là một trở ngại và việc trao đổi được thông suốt. Nếu có thể trở thành hiện thực, dịch vụ đó sẽ là một sáng kiến chưa từng có ở bất cứ quốc gia nào khác, và nó sẽ chứng minh với cả thế giới sự gắn kết đặc biệt giữa cộng đồng Việt kiều và quê hương Việt Nam.
- Họ muốn giữ những thói quen không thể thiếu : hãy đầu tư hạ tầng Internet
Tại đất nước nơi họ sinh sống, các chuyên gia Việt kiều đã quen với việc sử dụng Internet giống như họ sử dụng những tiện ích tối thiểu nhất là điện và nước. Vì vậy, họ cảm thấy rất lạ lùng thậm chí là khó chịu khi không thể sử dụng Internet trong những điều kiện như họ đã có ở đất nước họ từng sinh sống. Ngày nay, Internet ADSL đã có mặt ở khắp nơi tại Việt Nam nhưng chất lượng kết nối vẫn chưa đạt yêu cầu, nhất là trong trường hợp kết nối với mạng quốc tế thế hệ mới (mà người ta gọi là web 2.0).
Để cảm thấy vẫn được đảm bảo những điều kiện sống như trước đây, họ cần giữ liên lạc với người thân, không bị ngăn cản bởi khoảng cách. Ngày nay, ở Việt Nam, thực hiện các videoconference, video trên internet, điện thoại quốc tế... vẫn còn gặp nhiều khó khăn, và điều đó tạo ra một hình ảnh không tốt cho Việt Nam, hình ảnh của một đất nước vẫn chưa sẵn sàng để bước vào một thế giới phẳng.
Kiến nghị : mang lại dịch vụ kết nối Internet DSL “hạng nhất” với chất lượng kết nối quốc tế được bảo đảm, một dịch vụ như vậy cũng sẽ khiến cho các công ty vừa và nhỏ rất quan tâm.
- Xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin tiêu chuẩn quốc tế : bước vào thế giới phẳng
Rất nhiều người đã đọc hoặc từng nghe nói đến cuốn sách nổi tiếng của T.L. Friedman. Đối với ông, việc có được những xa lộ thông tin mà mọi người đều có thể tiếp cận dễ dàng nhờ giá dịch vụ giảm một cách ấn tượng sau cuộc bùng nổ Internet đã là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự phát triển hiện nay của nền kinh tế thế giới. Để tồn tại và phát triển, Việt Nam phải trở thành một phần của “thế giới mới này”. Tuy nhiên, cho đến nay, Việt Nam chưa hoàn toàn làm được điều đó. Ví dụ, có thể thấy để nối liền Việt Nam với châu Âu, toàn bộ kết nối Internet phải đi vòng qua Mĩ. Trong khi đó, đường truyền ngắn nhất kết nối với châu Âu sẽ là đường truyền đi qua Ấn Độ và qua Địa Trung Hải.
Ngày nay, chúng ta đang sống vào một thời điểm xảy ra một quá trình biến đổi mang tính lịch sử mà một số người gọi là Toàn cầu hóa 3.0. Các công ty lớn chuyển sang một mô hình toàn cầu, trong đó, mỗi chức năng của công ty sẽ được tập trung tại đất nước nào biết thực hiện một cách tốt nhất chức năng này. Nhờ vào công nghệ viễn thông, khoảng cách không còn là một vấn đề. Đã đến lúc để Việt Nam trở thành một ứng viên để nhận “thầu” thực hiện những mảng dịch vụ khổng lồ cho các công ty đa quốc gia.
Những Việt kiều sinh sống ở nước ngoài có thể đóng vai trò quan trọng không kém gì những người đã trở về quê hương. Với vị trí và quan hệ của mình, họ có thể gây những ảnh hưởng quan trọng đến quyết định của các tập đoàn đa quốc gia nơi họ đang công tác, và điều đó có thể tạo nên những thay đổi quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam.
Kiến nghị : Nhanh chóng đưa Việt Nam kết nối với hai đường cáp ngầm dưới biển hiện đang được xây dựng, phổ biến rộng rãi Internet tốc độ cao và các dịch vụ viễn thông để Việt Nam trở thành một ứng viên không thể bỏ qua mỗi khi một tập đoàn đa quốc gia tính đến việc đưa các hoạt động của họ ra gia công ở nước ngoài để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng và đặt ra câu hỏi nước nào sẽ là điểm đến tốt nhất.
Có thể học hỏi những gì đã được áp dụng Maroc, thành lập một Uỷ ban chiến lược phát triển ngành gia công ngoài (offshoring) (
http://www.pm.gov.ma/fr/detail.aspx?id=1083&cat=4&Lg=Fr, do Thủ tướng làm chủ tịch và chỉ đạo). Uỷ ban này sẽ đảm bảo sao cho các công ty đang góp phần tích cực để Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới không những có được những điều kiện cơ sở hạ tầng chất lượng tốt mà còn được hưởng những dịch vụ và các điều kiện ưu đãi tài chính thỏa đáng. Ví dụ, các công ty mở ra các Trung tâm dịch vụ cuộc gọi (call center) phải đựơc ưu tiên để có thể nhận và thực hiện cuộc gọi điện thoại quốc tế với chất lượng đảm bảo và với chi phí cạnh tranh.
| Mục tiêu | Kiến nghị | Gửi đến |
| Trở về nước | Cơ chế đỡ đầu | OVS Club |
| Tạo điều kiện để họ đóng góp | Kết nối | OVS Club |
| Phát huy hết khả năng | Trung tâm thương mại (business center) | Uỷ ban Nhân dân TP HCM |
| Giữ cầu nối | Dịch vụ trọn gói không giới hạn Vietnam Airlines | Bộ giao thông |
| Giữ thói quen cũ | Dịch vụ Internet hạng nhất | Bộ Bưu chính Viễn thông |
| Cơ sở hạ tầng tiêu chuẩn quốc tế | Ủy ban phát triển ngành gia công ngoài | Chính phủ |
Duc HA DUONG
CEO
Officience
Duc.haduong@officience.com
Tel : + 84 (0) 907 481 062
Fax : + 84 (8) 8447723
Đề án thành lập trung tâm công nghệ thiết kế và mô phỏng cao cấp CMMCInternational Competent Centre of Product Lifecycle Management (PLM) and Modeling of Continuum (MC) (CMMC)
GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng, Giám đốc Công ty Hưng Việt Technology, Việt Nam
Bài tham luận sẽ đền cập đến việc thành lập một vườn ươm cho ngành công nghệ tự mô phỏng, thiết kế và mô hình.
Tại các nước phát triển trong thời đại ngày nay những công nghệ cơ sở như công nghệ chế tạo máy, công nghệ chế tạo xe hơi, tàu thủy, máy bay, công nghệ xây dựng các cấu trúc phức tạp như nhà cao tầng, cầu giây văng, lò nguyên tử, để tăng trưởng nhanh và giá thành cạng tranh được trên thị trường, đều phải dựa trên công nghệ mô phỏng và thiết kế.
Đây chính là ảnh hưởng của cuộc cách mạng tin học, đặc biệt trong các ngành công nghệ cơ bản. Đây chính là cơ sở khoa học và kỷ thuật cần thiết cho các công nghệ tự động.
Trong lĩnh vực này Việt Nam có nhiều lợi thế: vốn đầu tư không nhiều, người Việt Nam thích ứng rất nhanh trước máy tính...
Trong khuôn khổ cọng tác Việt-Bỉ phát động từ năm 1990 cho đến nay, chúng tôi đã chủ trương đi tắc đón đầu, chuẩn bị nhân lực tại chỗ cho các công nghệ này. Hơn 300 thạc sỹ và hơn 12 tiến sỹ đã được đào tạo tại Việt Nam trong lĩnh vực này. Vừa rồi một labô mới, chuyên về mô phỏng và vận hành vật thể trong không gian 3 chiều đã được thành hình tại ĐH Bách Khoa với tài trợ trực tiếp của Công ty hàng đầu thế giới (30% thị phần) Dassault Systèmes, và những công ty khác như công ty thiết kế xe hơi Đức HLS, công ty tin học HP và hai công ty quốc tế tại Việt nam: NSV và Hưng Việt Technology:
Tuy nhiên đây chỉ là một cố gắng riêng rẽ. Làm thế nào xây dựng một vườn ươm bề thế hơn, nằm trong nhịp điệu chung của khu công nghệ cao TP HCM?
Làm thế nào tụ tập lại nhân lực đã được đào tạo bài bản nhưng đang nằm rải rác khắp nơi?
Bài tham luận sẽ xác định kế hoạch, kêu gọi sự đóng góp cụ thể của VK có chuyên môn này và đang công tác tại nhiều trường ĐH hay công ty hàng đầu trên thế giới.